Hiển thị các bài đăng có nhãn CNTT. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn CNTT. Hiển thị tất cả bài đăng

2012/11/24

Cùng tìm hiểu về công nghệ Internet băng thông rộng


Ngày nay, khi bạn sử dụng Internet tại nhà, gần như chắc chắn bạn đang sử dụng một dạng thức của băng thông rộng. Băng thông rộng có thể được định nghĩa theo nhiều tiêu chuẩn khác nhau ví dụ như khả năng truyền dữ liệu lên tới 1.5-2 Mbit/s. Tốc độ này cần thiết để có thể stream một file video chuẩn HD, chơi game online và cho phép gửi đi và nhận về một lượng lớn dữ liệu. Vậy bạn đang kết nối tới mạng Internet toàn cầu bằng cách nào. Hãy cùng genk điểm qua những công nghệ Internet băng thông rộng tại gia đang được sử dụng rộng rãi nhất hiện nay.

Công nghệ sử dụng cáp truyền hình (cable modem)

Tại Mỹ, sử dụng đường mạng truyền hình cáp đang là một trong số những cách phổ biến nhất để truy cập Internet hộ gia đình. Tương tự như cáp quang và DSL (được đề cập ở dưới đây), mạng cáp truyền hình đóng vai trò cung cấp truy cập “last mile” từ nhà cung cấp dịch vụ Internet (ISP) tới người dùng cuối. “Last mile” ở đây để chỉ khâu cuối cùng trong mạng lưới viễn thông, khi thực sự vươn tới khách hàng sử dụng dịch vụ.
Cùng tìm hiểu về công nghệ Internet băng thông rộng 1
Công nghệ này đòi hỏi có một modem đặt ở người dùng cuối và hệ thống CMTS- một thiết bị được đặt ở nhà cung cấp dịch vụ, thực hiện chức năng điều chế tín hiệu trước khi đưa đến cable modem. Hai hệ thống này được kết nối qua cáp đồng trục – tương tự như cáp TV. Khoảng cách giữa modem và và nhà cung cấp có thể lên tới 100 dặm với cơ sở hạ tầng tốt. Tốc độ sử dụng trên đường cáp này được chia sẻ giữa các người dùng và hệ thống được thiết kế để có thể phân phối tối ưu nhất tốc độ truyền. Nếu quá nhiều người truy cập một lượng lớn dữ liệu, thì bộ phận xử lý backend sẽ điều chỉnh hạ thấp tốc độ xuống cho tất cả người dùng.
Để hạn chế người dùng chiếm hết băng thông, modem được lập trình để phân loại băng thông theo giá cước. Gói sử dụng với giá cước cao hơn sẽ được cấp tốc độ cao hơn. Trong một vài năm trở lại đây, một số lượng lớn các nhà cung cấp băng thông rộng đã chuyển sang sử dụng chính sách phân bổ theo lưu lượng, người dùng truy cập nhiều dữ liệu hơn đồng nghĩa với việc trả tiền nhiều hơn.
Về mặt lý thuyết tốc độ với công nghệ này có thể đạt 100Mbit/s khi download và 20 Mbit/s khi upload.

DSL

Đối thủ cạnh tranh trực tiếp với cáp Internet là DSL, viết tắt của Digital Subscriber Line (Đường Thuê bao Số).
Cùng tìm hiểu về công nghệ Internet băng thông rộng 2
Nếu như trong cable modems, người dùng sử dụng đường truyền cáp tivi làm thiết bị cuối thì kỹ thuật DSL sử dụng đường truyền điện thoại nội hạt có sẵn. DSL được truyền đồng thời trên dây điện thoại mà không làm gián đoạn dịch vụ thoại hiện tại. Phần lớn DSL cung cấp tới hộ gia đình dưới dạng ADSL, với tốc độ download có thể nhanh hơn tốc độ upload. Còn với kỹ thuật ít phổ biến hơn là SDSL, tốc độ download và upload là tương đương nhau.
Giống như công nghệ sử dụng mạng cáp truyền hình, DSL vận hành bằng cách kết nối ISP tới điểm cuối là người dùng. Tuy nhiên kết nối giữa đường truyền điện thoại của người dùng và tổng đài điện thoại bị giới hạn ở khoảng cách 2 dặm. Khoảng cách xa hơn sẽ dẫn tới băng thông bị suy giảm. Vì thê mà DSL phát huy hiệu quả tốt nhất ở những khu vực gần với tổng đài điện thoại. Hiện nay tốc độ download trên đường truyền DSL hộ gia đình bị giới hạn ở 40Mbit/s và tốc độ trung bình có thể thấp hơn thế nhiều.

Cáp quang

Cùng tìm hiểu về công nghệ Internet băng thông rộng 3
Trong những năm trở lại đây, cable và DSL đang vấp phải sự cạnh tranh gay gắt từ đối thủ là công nghệ sử dụng đường truyền cáp quang. Lợi ích của công nghệ này so với cáp đồng trục hay đường dây điện thoại nằm ở chỗ nó có thể cung cấp tốc độ cao hơn nhiều ở phạm vi khoảng cách xa hơn.Trên thực tế, phần lớn mạng Internet đang sử dụng cáp quang làm nền tảng hạ tầng. Sau đó, hệ thống sẽ chuyển sang sử dụng các loại công nghệ khác nhau để đưa mạng tới người dùng cuối.
Tốc độ truyền tải lên tới 100Mbit/s không còn xa lạ gì trong công nghệ này. Thậm chí hạ tầng mạng cáp quang của Google có thể cung cấp cho người dùng hộ gia đình kết nối 1000Mbit/s theo cả hai chiều up lên và tải xuống.

LTE

Với những ưu việt rõ rệt so với kĩ thuật kết nối Internet qua dây, công nghệ mạng không dây đang nhanh chóng trở thành sự thay thế hữu hiệu đối với băng thông rộng quy mô hộ gia đình. LTE là viết tắt của Long-Term Evolution là công nghệ mạng không dây thế hệ mới. Ở Mỹ, các nhà mạng Verizon, AT&T and Sprint đều đã sử dụng công nghệ LTE và họ có thể cung cấp cho người dùng tốc độ băng thông rộng đúng nghĩa từ các thiết bị di động và modem không dây.
Cùng tìm hiểu về công nghệ Internet băng thông rộng 4
Không giống như công nghệ cable, sợi quang và DSL, LTE không đòi hỏi phải trang bị kết nối sử dụng dây nối để truy cập. Thay vào đó, người dùng sử dụng điện thoại LTE hoặc máy tính bảng, USB để kết nối. Hiện nay tốc độ có thể đạt tới 50Mbit/s khi download và 30Mbit/s khi upload. Trong tương lai khi Công nghệ cải tiến của LTE gọi là LTE Advanced đi vào hoạt động, người dùng hoàn toàn có thể truy cập với tốc độ cao hơn.
Khía cạnh tích cực nhất của LTE đó là nó có thể giải quyết triệt để vấn đề last mile. Trong khi cable và sợi quang có thể vận hành tốt ở phạm vi khoảng cách trung bình, những hệ thống này đang nằm trong vòng tranh luận liệu có phù hợp với những khu vực nông thôn ở các nước đang phát triển hay không, nơi mà hạ tầng viễn thông vẫn còn lạc hậu.
Trái lại, LTE có thể hoạt động ở phạm vi khoảng cách xa hơn nhiều và hạ tầng hỗ trợ chỉ cần mạng lưới các trạm thu phát tín hiệu. Bên cạnh đó, một lợi thế khác của LTE là người dùng có thể vẫn truy cập được khi di chuyển. Không như các công nghệ sử dụng dây để kết nối, LTE có thể được truy cập từ vô số các địa điểm. Người dùng có thể sử dụng iPad có kết nối LTE từ truy cập từ bất kì địa điểm nào hỗ trợ LTE. Nếu LTE không tồn tại ở khu vực đó, tín hiệu mặc định sẽ chuyển thành 3G.
Tham khảo: http://mashable.com
Nguồn: Genk.vn

2012/07/31

Thói quen xấu cần bỏ nếu muốn theo ngành CNTT



Nếu muốn theo ngành CNTT, bạn cần tránh 9 thói quen xấu sau đây.


1. Không chịu đọc tài liệu trước khi dùng


Đây là một trong những thói quen tệ hại nhất nhưng lại thường gặp nhất. Có lẽ thói quen này nảy sinh từ tính thân thiện của "giao diện đồ hình" (GUI) khiến cho người dùng bồi đắp thói quen mò mẫm mà không cần đọc hướng dẫn nhưng cũng sử dụng được máy. Việc này không có gì đáng ngại đối với người dùng (rất) bình thường. Tuy nhiên, nếu bạn có ý định theo đuổi ngành CNTT một cách nghiêm túc thì hãy bỏ ngay thói quen tai hại này. Đây là rào cản lớn nhất cho sự phát triển, kiến thức vững chắc không phải do... mò mẫm được. Tài liệu hướng dẫn không phải vô cớ mà được viết ra.


Hãy đọc tài liệu hướng dẫn trước khi dùng  (Ảnh: Jaakko Tuomivara
2. Đọc lướt


Đây cũng là một thói quen tệ hại và phổ biến không kém. Ngay trên những diễn đàn, với những ý kiến và chỉ dẫn bằng tiếng Việt rất cô đọng, rành mạch và dễ hiểu nhưng vẫn có quá nhiều người chỉ đọc lướt để rồi quay lại tiếp tục thắc mắc. Thói quen này cực kỳ nguy hiểm bởi vì nó rèn cho trí não thói quen đọc lướt, dẫn đến chỗ kiến thức thu thập một cách hời hợt, tạm bợ và chắp vá. Nếu những ý kiến bằng tiếng Việt rất cô đọng, rành mạch và dễ hiểu nhưng vẫn không chịu khó đọc kỹ và suy gẫm thì việc tham khảo, tổng hợp các sách tiếng nước ngoài gần như là vô khả thi.


Đọc lướt dẫn đến việc thu nhận kiến thức hời hợt, chắp vá (Ảnh: ST)
3. Bắt chước mà không suy nghĩ


Khi bắt đầu làm quen với những thứ trong ngành CNTT, cách dễ nhất là bắt chước làm theo từng bước. Nhưng nếu cứ nhắm mắt làm theo mà không hề suy nghĩ lý do tại sao làm như vậy, không thử đặt câu hỏi những gì xảy ra đằng sau những "bước" ấy thì không chóng thì chày sẽ tạo cho mình một thói quen tai hại: bắt chước, không suy nghĩ, không tư duy - như một cỗ máy. Từ chỗ làm theo từng bước có sẵn mà không suy nghĩ đến chỗ biến thành thói quen thì khả năng nhận định và tư duy sẽ bị thui chột. Chẳng những vậy, thói quen này kiềm hãm sự thẩm thấu kiến thức xuyên qua hàng loạt những câu hỏi. Tự đặt câu hỏi chính là cách buộc trí não mình làm việc và là viên đá đầu tiên để dấn thân vào chỗ phát triển trí tuệ.


Bắt chước mà không suy nghĩ giống như robot dùng máy tính (Ảnh: ST)
4. Sợ khó


Sợ khó tưởng chừng quá thông thường trên mọi lãnh vực nhưng trong lãnh vực CNTT thì thói quen "sợ khó" là thói quen giết chết ngay từ bước đầu làm quen và phát triển. Chẳng có ngành nghề thực thụ nào đòi hỏi trí tuệ mà lại dễ dàng hết. Thói quen "sợ khó" biểu hiện từ chuyện đơn giản như học ngoại ngữ (để có thể tham khảo thêm tài liệu ngoại ngữ) cho đến chuyện tự mình đối diện với những khó khăn trong khi trau dồi kiến thức và kinh nghiệm. Thói quen này lâu dần ăn sâu, dẫn đến chỗ không muốn và không thể giải quyết được điều gì nếu chỉ cảm thấy có trở ngại. Nên tránh xa câu này: vạn sự khởi đầu nan, gian nan bắt đầu nản.


Sợ khó sẽ không giải quyết được những việc lớn, không vượt qua được khó khăn (Ảnh: gocrawford)
5. Viện cớ


Quá trình tích lũy kiến thức luôn luôn có những khó khăn và trở ngại. Nếu chính bản thân mình không tự kỷ luật và tự nghiêm khắc thì chẳng còn ai trên đời này kỷ luật và nghiêm khắc giúp mình. Từ chỗ không kỷ luật và không nghiêm khắc, chỉ cần một thời gian rất ngắn có thể dẫn đến sự đổ vỡ, sợ hãi, chán nản và để bào chữa cho sự đổ vỡ thường là những viện cớ. Viện cớ chỉ để ẩn nấp sau cái cớ nhưng sự thật sụp đổ vẫn tồn tại. Tránh xa những câu như "nhà em nghèo", "hoàn cảnh khó khăn", "vì em là newbie" mà nên biết rằng vô số những người khác cũng như mình và thậm chí còn khó khăn hơn mình. Nên nhớ rằng, ngay khi dùng cái cớ để viện thì lúc ấy mình đã chính thức thất bại rồi.


Khi viện cớ, bạn đã chịu thất bại rồi (Ảnh: ST)
6. "Đi tắt đón đầu"


Trên đời này chẳng có loại tri thức đích thực nào hình thành từ "đi tắt" và "đón đầu" cả. "Mì ăn liền" có cái ngon của nó nhưng "mì ăn liền" không thể tạo thành một bữa ăn thịnh soạn và đầy đủ. Tri thức đích thực cũng như thức ăn, nó cần điều độ, liều lượng và thời gian để... tiêu hoá. Tư duy và thói quen "đi tắt" luôn luôn dẫn đến những lổ hổng khủng khiếp trong kiến thức. Những lổ hổng ấy xem chừng không nhiều và không quan trọng khi kiến thức còn ít ỏi và nhu cầu công việc còn sơ khai. Tuy nhiên, một khi đối diện với những khó khăn và phức tạp trong công việc và trong đời sống thì những thứ "đi tắt đón đầu" là nguyên nhân sâu xa của những đổ vỡ và thất bại. Hãy nhớ: đừng đi tắt và đừng đón đầu bởi vì chẳng có con đường tắt nào trong hành trình đi tìm tri thức.


Không có con đường tắt trong tìm tòi tri thức (Ảnh: DialogData)
7. "Nghe nói là..."


Cụm từ "nghe nói là..." là cụm từ phổ biến đến độ chóng mặt. Bất cứ một ngành khoa học hay có liên quan đến khoa học không thể dựa trên "nghe nói" mà luôn luôn cần dựa trên các bằng chứng khoa học và những bằng chứng ấy cần chính xác và cụ thể. Chính vì thói quen "nghe nói" đã đánh rớt những cơ hội tìm tòi và kiểm chứng - những cơ hội quý báu để trau dồi kiến thức và kinh nghiệm. Cái gì không rõ thì nên tìm tòi và đừng "nghe nói" mà phải được thấy, được phân tích và được kiểm chứng. Không bỏ được thói quen này thì cách tốt nhất đừng bén mảng gần bất cứ ngành khoa học nào vì chỉ chuốc lấy sự thất bại và lãng phí.


Chỉ nghe tin đồn mà không kiểm chứng không phải điều phù hợp 
với bất cứ ngành khoa học nào (Ảnh: ST)
8. Niềm tin và hy vọng


Trong khoa học, khi nói đến kết quả và sự kiến tạo hoặc thậm chí con đường đi đến sự kiến tạo và kết quả thì hoàn toàn không có chỗ cho "niềm tin" và "hy vọng" một cách mù mờ. Thói quen "restart" lại máy hay "restart" lại chương trình với "hy vọng" nó sẽ khắc phục sự cố đã trở thành thói quen cố hữu. Nếu không có điều kiện thay đổi nào khác thì có "restart" một triệu lần và hy vọng một triệu lần thì kết quả vẫn y hệt nhau. Đừng "tin" và đừng "hy vọng" kết quả sẽ thay đổi nếu chính bạn không kiểm soát và thay đổi để làm kết quả thay đổi. Tất cả mọi hoạt động từ lập trình cho đến quản lý hệ thống, quản lý mạng, bảo mật, reverse engineering.... thậm chí đối với người dùng bình thường, khi kết quả không như ý, sự điều chỉnh là điều cần thiết thay vì lặp lại y hệt hành động và chỉ... hy vọng.


Khi có kết quả không như ý, sự điều chỉnh là cần thiết thay vì... hi vọng (Ảnh: Depositphotos) 


9. Không vì trí tuệ mà vì... "đẳng cấp"


Lắm bạn lao vào ngành này không phải là vì trí tuệ, vì kiến thức, vì đóng góp một cái gì đó ích lợi cho xã hội mà là vì... đẳng cấp mơ hồ nào đó. Nếu tiếp tục lao vào và chọn lấy một mục tiêu mơ hồ thì sẽ không bao giờ đi đến đích được. "Đẳng cấp" là một thứ mơ hồ, vô ích và đầy tính cá nhân. Khi nó biến thành thói quen và mục tiêu để nhắm tới thì nó chẳng mang lại được gì ngoài sự thất bại ngay từ đầu vì hoàn toàn không có một phương hướng nào cả. Trau dồi kiến thức hoàn toàn khác với việc xoa dịu mặc cảm ("đẳng cấp").


Nếu bạn theo đuổi ngành CNTT vì... đẳng cấp, bạn không thể tới đích được (Ảnh: ST)

TCCL tháng 7 năm 2012
Tác giảDieu Hoang

2012/07/16

Tại sao các ứng dụng miễn phí cho doanh nghiệp có thể bị coi là mất thời gian và không có hiệu quả



5 lời khuyên giúp các doanh nghiệp có thể tránh một vài trở ngại lớn khi sử dụng những công cụ trực tuyến giá rẻ:
1. Không nên triển khai ứng dụng miễn phí một cách vội vã.
2. Hiểu rõ những gì doanh nghiệp đang cần.
3. Đôi khi dùng ít công cụ lại mang lại kết quả to lớn hơn.
4. Không nên ép buộc nhân viên phải sử dụng một ứng dụng mới.
5. Tìm hiểu chi phí thực tế của một ứng dụng miễn phí.
Khi nói đến ứng dụng doanh nghiệp, cụm từ “miễn phí” không phải lúc nào cũng có nghĩa là tốt nhất cũng như “dễ dàng” hay “thuận tiện”. Trong khi các doanh nghiệp nhỏ với mức tài chính hạn hẹp có thể bị cám dỗ bởi lời hứa hẹn về một ứng dụng trực tuyến miễn phí, dễ dàng đáp ứng mọi chức năng của công việc kinh doanh. Thì trên thực tế, những ứng dụng không đòi hỏi chi phí như vậy có thể không thực sự hiệu quả và có thể gây tổn hao công sức cho doanh nghiệp sử dụng nó.



Sau đây là 5 lời khuyên giúp các doanh nghiệp có thể tránh một vài trở ngại lớn khi sử dụng những công cụ trực tuyến giá rẻ.
1. Không nên triển khai ứng dụng miễn phí một cách vội vã.
Ngay cả khi ứng dụng đó hoàn toàn hỗ trợ một chức năng cụ thể cho công việc kinh doanh, nó cũng không nên được triển khai một cách vội vàng. Hãy nhớ rằng bất cứ công cụ nào được sử dụng cũng sẽ tăng thêm độ phức tạp cho công ty của bạn. Vì vậy trước khi đổ xô triển khai một công cụ quản lý nào đó, các doanh nghiệp cần cân nhắc kỹ lưỡng những vấn đề có thể phát sinh, cả mặt tích cực cũng như tiêu cực. Sau đó mới nghĩ đến việc đầu tư vào một giải pháp được xem là tối ưu cho công việc kinh doanh, dù nó miễn phí hay là giá rẻ. Một bộ máy kinh doanh đơn giản sử dụng những phần mềm quản lý quá rắc rối và tỉ mỉ nhiều khi sẽ phản tác dụng và khiến cho hoạt động trở nên chậm chạp.



Các ứng dụng cơ bản như Gmail hay Zoho Documents đều có những yêu cầu cơ bản trong việc thiết lập, tuy nhiên lại mang lại hiệu suất cao nhất cho các doanh nghiệp.
2. Hiểu rõ những gì doanh nghiệp đang cần
Các chợ trực tuyến như GetApp, Google Marketplace hay Download Marketplace có thể giới thiệu hàng ngàn ứng dụng hữu ích cho việc kinh doanh, nhưng việc lựa chọn mua các công cụ kinh doanh tại đây không phải cách hiệu quả nhất.
Trước khi bạn chọn một ứng dụng, hãy tự hỏi “ Ứng dụng này sẽ phù hợp với doanh nghiệp ở khía cạnh cụ thể nào?” Khi đó bạn sẽ hiểu rõ hơn về công việc của mình và những gì thực sự cần thiết để chạy doanh nghiệp của mình. Một vài ứng dụng như Cacoo, Mockingbird sẽ đưa ra cho bạn những biểu đồ phân tích kinh doanh kỹ càng, giúp bạn chọn lựa được những quyết định kinh doanh đúng đắn nhất.
3. Đôi khi dùng ít công cụ lại mang lại kết quả to lớn hơn.
Không nên quá máy móc trong việc sử dụng các ứng dụng hỗ trợ cho việc kinh doanh. Có thể bạn đã từng dùng và tin tưởng và khả năng của một ứng dụng đơn giản bất kỳ nào đó, nhưng liệu nó có thể giúp bạn nâng gấp đôi năng suất không? Ngược lại việc sử dụng quá nhiều ứng dụng miễn phí từ nhiều nhà cung cấp khác nhau đôi khi lại mang đến sự rắc rối và xung đột trong việc quản lý hay sao lưu dữ liệu.
Khi sử dụng nhiều phần mềm khác nhau một lúc, bạn phải mất công quản lý các Account và Password để truy cập và sử dụng các hệ thống này. Điều tệ hại sẽ xảy ra khi doanh nghiệp muốn tích hợp và cập nhật các phần mềm cơ sở dữ liệu của các phần mềm này mới nhau. Chúng sẽ không tương thich và hàng đống lỗi kéo sẽ xảy ra.



Để đơn giản hóa mọi thứ, hãy sử dụng số lượng hợp lý các ứng dụng từ chung một nhà cung cấp hoặc có nhiều điểm tương đồng, để việc quản lý dữ liệu một cách tập trung và dễ dàng. Điều này cũng khiến các nhân viên trong một doanh nghiệp dễ dàng hơn trong việc truy cập và tiếp cận các ứng dụng này. Các doanh nghiệp nên chọn một dịch vụ trả phí có tính tương thích cao khi doanh nghiệp đã có doanh thu đáng kể, còn hơn là ở lại với các dịch vụ miễn phí rồi sau đó bỏ hàng đống thời gian để khắc phục sự cố.
4. Không nên ép buộc nhân viên phải sử dụng một ứng dụng mới
Đừng quá ngạc nhiên hay cáu giận nếu nhân viên của bạn từ chối sử dụng một công cụ doanh nghiệp mới. Đơn giản vì họ đã quá quen thuộc với những công cụ cũ, những thứ họ đã làm chủ hoàn toàn và có thể khai thác hết khả năng của chúng. Nếu phải thay đổi thói quen dù chỉ là một thay đổi nhỏ nhất, nhân viên của bạn có thể sẽ bối rối trong quá trình sử dụng, từ đó gây ra căng thẳng trong quá trình làm việc. 



Chắc hẳn đã không ý người phải bực mình khi ngày nào cũng phải sử dụng các phần mềm doanh nghiệp gặp nhiều lỗi. Những công việc tưởng chừng đơn giản lại trở nên phúc tạp hóa. Việc phải sử dụng chúng trở thành một cực hình đối với các nhân viên trong một doanh nghiệp.
Chính vì thế, hãy cho các nhân viên của mình dùng thử hệ thống mới trong doanh nghiệp của mình, từ đó thu thập các ý kiến phản hồi về mức độ hiệu quả của nó cho doanh nghiệp và người dùng. Nếu những phản hồi là tiêu cực thì bạn có thể sớm loại bỏ một ứng dụng có thể sẽ là mầm mống cho các căng thẳng và sự khó chịu trong công ty, nếu như bạn tiếp tục bắt buộc nhân viên của mình sử dụng nó trong tương lai dài.
5. Tìm hiểu chi phí thực tế của một ứng dụng miễn phí
Một ứng dụng miễn phí thực sự không phải là không mất gì khi sử dụng nó. Ngay cả khi nó không mất tiền của bạn thì nó cũng đã lấy đi thứ quý giá nhất: đó là thời gian. Bạn sẽ mất thời gian học, làm quen với ứng dụng mới đó. Rồi thời gian để cài đặt và đào tạo nhân viên sử dụng, thời gian để xử lý hành chính, xử lý sự cố.
Để tính toán thời gian mà bạn và nhân viên đầu tư để triển khai một ứng dụng mới, mách nhỏ cho bạn: có thể sử dụng công cụ quản lý thời gian như Klok hay Toggl. Nếu sau khi đánh giá, công cụ mới này đó không đạt hiệu quả về mặt thời gian thì bạn nên lựa chọn các phương án khác mang lại nhiều hiệu quả hơn.
Tham khảo: Entrepreneur
Nguồn: Genk.vn

2012/06/17

Tương lai của nghề IT và điện toán mây

 17/06/2012 - 12:00
- Sẽ không còn nhiều nhu cầu cho những chuyên gia mạng đơn thuần trong tương lai
- Bù lại sẽ cần nhiều hơn những người vừa am hiểu mạng nhưng vừa ý thức được mô hình kinh doanh của công ty
- Sẽ có một cuộc chạy đua "săn đầu người" nhưng không phải ai cũng đáp ứng đủ năng lực để "bị săn".
Điện toán mây không còn là cái gì quá mới mẻ. Nó đã và đang hiện diện ở rất nhiều nơi trong thế giới net của chúng ta hôm nay. Các "đám mây" đã thay đổi đáng kể cách con người sử dụng máy tính. Tạo ra cái mới nhưng xoá bỏ cái cũ dường như là hai tiến trình luôn đi cạnh nhau. Vậy tương lai của "mây" đặt ra cho ngành IT là gì?

Tạm biệt các admin server?

Theo một khảo sát do hãng Garter thực hiện, đến 2020, số lượng các doanh nghiệp chỉ dựa trên hạ tầng mạng của riêng họ sẽ giảm đi 1/2. Hạ tầng mạng ở đây bao gồm các server, thiết bị lưu trữ, thiết bị mạng, thiết bị liên kết... Lý do của việc suy giảm này là có rất nhiều hạ tầng có thể được ảo hoá và đưa "lên mây". So với 70% nhu cầu cần có hạ tầng riêng của hôm nay, 8 năm sau con số sẽ chỉ còn 35%.

Trong khi vẫn còn những vị trí cho những ai mong muốn trở thành chuyên gia hạ tầng mạng, thì nhìn chung vai trò của các chuyên gia này sẽ lệ thuộc vào yêu cầu của các tập đoàn.

John Rivard, giám đốc bộ phận nghiên cứu của Gartner, cho hay : "Các đám mây có khả năng đáp ứng được các mặt không quá riêng biệt của IT, và cũng đồng thời nâng cao vai trò của IT trong các lĩnh vực rất riêng biệt. Có những vị trí mà chắc chắn sẽ thay đổi: anh sẽ thấy ngày càng nhiều sự tự động hoá hơn, các đám mây có nhiều năng lực hơn và cần ít hơn việc quản lý trực tiếp mọi thứ. Trên toàn mảng IT, mọi cơ quan tổ chức mà tôi từng trao đổi đều hỏi chung một câu: 'Làm thế nào để tôi có thể dùng ít tài nguyên hơn mức tôi hiện có, và dùng chúng hiệu quả hơn cho kinh doanh?'."

Sẽ có sự chuyển dời từ các chuyên gia IT, những người nằm lòng các hệ thống server Windows và ngủ cùng những quyển hướng dẫn kỹ thuật, sang những người mà Rivard gọi là "các tay linh hoạt", những người có kỹ năng trên nhiều lĩnh vực IT và kinh doanh; hoặc những người sẵn sàng "đón nhận" các thông tin mới.

Trong bản báo cáo của Gartner, "phần hồ sơ năng lực cho các tay IT mới, trong nhiều tình huống, sẽ là sự kết hợp giữa kỹ năng doanh nghiệp và IT".

Những ngành nghề kỹ thuật mới

Bước chuyển mình sang các dịch vụ IT trên mây và cách nó sẽ thay đổi các vị trí kỹ thuật từng là một chủ đề nóng tại hội thảo EMC World diễn ra tại Las Vegas (Mỹ). Howard Elias, COO bộ phần hạ tầng thông tin & dịch vụ đám mây của nhà khổng lồ lưu trữ EMC, cho biết: "Sẽ không có ít người hơn trong mảng IT, mà họ sẽ trưởng thành trong mảng IT theo nhiều cách. Nếu anh là một admin server, lưu trữ hoặc mạng, có thể sẽ có ít kỹ năng cần thiết về các thiết bị ấy hơn - những món mà tôi gọi là thành phần 'trong hầm chứa'."

Khi các vị trí trên biến mất, sẽ có những công việc mới ra đời được định hướng theo cả 2 hướng kỹ thuật - tập trung vào quản lý các loại công nghệ & dịch vụ khác nhau - lẫn mang định hướng của doanh nghiệp - như phân tích lượng dữ liệu ra vào để tìm ra điểm đáng lưu ý và từ đấy đưa ra giải pháp công nghệ phù hợp cho công việc.

"Chúng ta sẽ cần có thêm nhiều người mà tôi gọi là các kiến trúc sư data center hoặc đám mây, người mà anh vẫn cần phải biết về server, mạng, hệ thống lưu trữ; nhưng anh vẫn biết cách họ sẽ tích hợp & tương tác giữa các thành phần như thế nào. Và một trong những điều quan trọng nhất cần hiểu về sự quản lý & tự động hóa, vốn sẽ nổi bật lên trên tất cả, là IT sẽ giống như một dịch vụ".

Những người làm IT cũng phải tìm hướng chuyển mình sang các vị trí mới, mang định hướng kinh doanh nhiều hơn và cũng đồng thời phải đối mặt với sự cạnh tranh đến từ không chỉ các "đồng nghiệp", mà từ cả các phân tích viên kinh doanh nhằm đáp ứng được yêu cầu của họ.

Rivard mô tả các kỹ thuật viên mang định hướng kinh doanh lẫn các kỹ thuật viên mang tính công nghệ sẽ có vị trí ngang nhau trong mô hình mới: "Họ có thể đến từ bất kỳ bên nào, nhưng rồi họ sẽ trở nên độc lập và muốn tiếp tục việc rèn luyện lâu dài để làm chủ ngành nghề của mình".

Và tin tốt lành...

Mặc cho sự cạnh tranh đến từ các ngành nghề mới, Rivard lại không nghĩ các chuyên gia IT sẽ đấu tranh để giành được công việc.

"Cái thời kỳ bùng nổ dân số (Mỹ) nhằm đáp ứng một lực lượng lao động cơ hữu lớn đã đi qua. Do vậy, tôi không nghĩ chúng ta sẽ tạo ra đủ nhiều các SV tốt nghiệp trên cả mặt công nghệ hoặc kinh doanh. Và tôi nghĩ rằng sẽ có một tranh giành nhằm tìm ra các tài năng (trên cả 2 lĩnh vực)."

Elias của EMC thì lại cho rằng các chuyên gia IT sẽ xem sự thay đổi là một cơ hội nhằm tăng cường các cơ hội nghề nghiệp cho chính họ.

"Sẽ có một cuộc chạy đua về tính sáng tạo. Và khi điều này xảy ra, sẽ có cơ hội cho bất kỳ ai, một số sẽ nói rằng 'tôi không thích cơ hội mới' và mọi thứ sẽ trở nên khó khăn cho họ, và có một số lại sẵn sàng đón nhận điều trên. Và tin tôi đi, sẽ có nhiều công việc hấp dẫn hơn như đã từng xảy ra trong quá khứ."

"Anh sẽ phải điều khiển lấy sự nghiệp của chính mình, nó sẽ thiên về cá nhân nhiều hơn, và rồi các cá nhân sẽ giành lấy vị trí đón đầu."

Thử thách phía trước

Các nhà quản lý hạ tầng IT ý thức được thách thức từ sự thay đổi các kỹ năng cần thiết cho lực lượng lao động của họ sẽ cao hơn chuỗi giá trị trong kinh doanh - kỹ năng quản lý dịch vụ và hợp tác kinh doanh sẽ là khu vực phổ biến nhất cần có sự cải thiện trong một cuộc thăm dò gần đây của Gartner.

Rivard diễn giải: "Các nhà quản lý rõ ràng nhận ra điều đó, bên trong ngành IT, đấy là những kỹ năng cần thiết, và những ai có được kỹ năng đấy sẽ là những người khó tuyển được nhất".

"Dân IT là những người cần hiểu rõ thay đổi này, vì nếu họ không hiểu thì họ sẽ bị loại bỏ. Bản thân họ vốn rất thích các thay đổi công nghệ. Nhưng chính các thay đổi công nghệ sẽ định hướng con đường đi của họ ngoài việc chỉ thuần về công nghệ mà còn phải có cả năng lực lãnh đạo".

Theo CNET
Nguồn: Genk.vn

2012/06/06

Sơ bộ về các lý thuyết của Bloom, Dreyfus và Kolb – P1



Malcom Gladwell cho rằng kĩ năng cần phải trải qua một lượng thời gian đủ lớn để tích lũy, trưởng thành và thông thạo. Theo đó, giả sử một người bắt đầu học lập trình từ ghế nhà trường năm 10 tuổi; liên tục thực hành lập trình theo các cấp độ nâng cao dần qua từng ngày, thì thông thường cần tới 10 năm sau (tương đương khoảng 10.000 giờ thực hành) họ mới thuần thục kĩ năng để trở nên “tuyệt hảo” trong nghề lập trình. Đây là một quan sát không có gì mới, nhưng Gladwell có đưa ra một ước lượng tương đối cho mọi người phấn đấu trong suốt sự nghiệp của mình. Con số đó đủ để gạt bỏ các ảo tưởng về sự thành công tức thì. Nó cũng cụ thể hóa câu hỏi của dân gian ta “Có chí thì nên”: 10.000 giờ.
Tuy vậy, không phải cứ 10 năm một lập trình viên lập trình C liên tục năm này qua năm khác, dự án này qua dự án khác, thì anh ta trở thành “chuyên gia lập trình C”. Rõ ràng là sự việc không đơn giản như thế. Thực tế có nhiều lập trình viên làm việc ở các công ty lớn không hề trưởng thành gì thêm sau năm năm làm việc, và không có khả năng làm việc ở nơi nào khác, công việc nào khác ngoài công việc hiện tại của họ. Câu hỏi đặt ra cho cả người dạy và người học là, vậy làm sao để hiểu được, từ đó định hướng cho việc dạy hay việc học, cái năng lực của mỗi người tiến hóa ra sao trong khoảng thời gian không nhỏ trong một đời người ấy. Đây là câu hỏi được quan tâm từ lâu, và sự thật là rất nhiều nhà giáo dục học đã đưa ra các mô hình để cố gắng trả lời. Trong số đó, có ba mô hình rất đáng chú ý, một của Bloom về phân loại khoa học các mức độ trí năng mà một người học có thể đạt được, một của Dreyfus về thước đo cảm tính của sự tiến bộ, một của David Kolb về các thao tác cho sự tiến bộ. Đây là ba mô hình được đánh giá rất cao và có ảnh hưởng thực tiến trong tiếp cận việc dạy và học, đặc biệt là trong môi trường giáo dục sau phổ thông. Phần này mô tả sơ bộ mô hình Dreyfus và Bloom để giúp nhà giáo dục hiểu được các thang bậc phát triển kĩ năng và trí năng của người học, phần sau sẽ trình bày “Chu trình học tập Kolb hòng rút ra được các thao tác cụ thể để nhà giáo dục giúp đỡ người học đạt được các nấc thang cao hơn trong trí năng và kĩ năng trên chặng đường trưởng thành của mình.
Phân loại Bloom về mục tiêu giáo dục theo các mức trí năng
Nhà tâm lý giáo dục Benjamin Bloom đã đưa ra (1956) lối phân loại mục tiêu giáo dục theo hai lĩnh vực tri thức (cognitive domain) và cảm xúc (affective domain). Trong đó lối phân loại của Bloom về tri thức hiện được phổ biến khắp thế giới, không ngừng được cải tiến và khai triển. Khác với mô hình Dreyfus là phương pháp thực dụng và không đặt nặng tính lượng hóa được mức độ thành thục của kĩ năng, “Phân loại Bloom” được dùng như là công cụ quan trọng trongxây dựng mục tiêu giáo dục, đo lường giáo dục, đặt câu hỏi trong giảng dạy và nghiên cứu, xây dựng và thiết kế bài giảng cũng như hướng dẫn giảng dạy để đạt mục tiêu đã đề ra.
Theo Bloom, lĩnh vực tri thức được chia thành sáu phạm trù chủ yếu, sắp xếp theo mức độ tăng dần gồm Biết (Knowledge), Hiểu (Comprehension), Ứng dụng (Application), Phân tích (Analysis), Tổng hợp (Synthesis) và Đánh giá (Evaluation).
 Phân loại Bloom
Trong đó:
Biết
Kiến thức ở mức “Biết” bao gồm những thông tin có tính chất chuyên biệt mà một người học có thể nhớ hay nhận ra sau khi tiếp nhận. Việc học thường bắt đầu từ nhu cầu “muốn biết” nhưng để “biết được cái gì đó”, người học chỉ cần vận dụng trí nhớ, nên thành quả đạt được ở mức Biết là rất thấp và thường không mang lại giá trị tăng thêm cho người sở hữu cái biết ấy. Dân gian có câu “thùng rỗng kêu to” để chỉ những người nông cạn, tưởng biết nhiều nhưng thực ra không có trí tuệ. Thường mục tiêu giáo dục không dừng ở việc dạy các tri thức thuộc mức “Biết” này. Trong đo lường giáo dục, người ta thường dùng các câu hỏi loại điền thế, đúng\sai hay nhiều lựa chọn để kiểm tra kiến thức dạng này. Và thường chúng là những câu hỏi dễ nhất.
Một ví dụ về việc dạy kiến thức ở mức “Biết” là chỉ cho sinh viên biết RAM là bộ nhớ truy xuất ngẫu nhiên, nó viết tắt của những từ Random Access Memory. Sinh viên sẽ phải nhớ khái niệm này.
Thông hiểu (hay Hiểu)
Hiểu được chuyện gì đó tức là bao hàm việc đã biết nó, nhưng ở mức cao hơn là trí nhớ. Ở mức này, người học có khả năng chỉ ra ý nghĩa và mối liên hệ giữa các thông tin (hay khái niệm) mà họ đã biết. Khi phát biểu một định nghĩa nào đó, tức là người học đã biết đến khái niệm, nhưng để chứng tỏ hiểu, họ phải có khả năng giải thích được các khái niệm trong đó, minh họa bằng các ví dụ hay hình ảnh, phát biểu lại (rephrase) định nghĩa đó dưới dạng khác mà không mất đi đặc trưng của khái niệm.
Ở mức độ cao hơn của thông hiểu, người học phải chỉ ra các mối liên hệ giữa các khái niệm. Mục tiêu giáo dục loại này đòi hỏi người học phải giải thích, phân biệt, lựa chọn cho phù hợp hay suy diễn từ các dữ kiện đã cho.
Để kiểm tra người học có hiểu khái niệm hay không, ta có thể yêu cầu người học chọn định nghĩa sát nhất với định nghĩa có trong giáo trình trong số nhiều phát biếu.
Ví dụ về mức này là cắt nghĩa cho Sinh viên biết được RAM có hai đặc tính quan trọng là “truy xuất ngẫu nhiên” và “bộ nhớ tạm thời”. Qua đó sinh viên hiểu được RAM là một “không gian lưu trữ” tạm thời để lưu giữ các dữ liệu trong quá trình máy tính làm việc, dữ liệu đó sẽ không còn sau khi máy tính tắt đi; và việc truy xuất dữ liệu trong RAM được thực hiện ngẫu nhiên chứ không phải tuần tự như việc đọc dữ liệu như trên các băng từ.
Ứng dụng
Tri thức thuộc loại ứng dụng liên quan tới khả năng vận dụng kiến thức, biết sử dụng phương pháp, nguyên lý hay ý tưởng để giải quyết một vấn đề nào đó. Vấn đề được giải quyết ở đây phải khác (có khi là hoàn toàn mới) vấn đề đã được thảo luận trên lớp hay trong giáo trình.
Mục tiêu giáo dục dừng ở mức Ứng dụng là những mục tiêu “thực dụng”, mang lại giá trị cộng thêm cho người học vì các kiến thức có thể được đem ra áp dụng vào các vấn đề thực tiễn của người học.
Để đo lường khả năng ứng dụng, ta có thể sử dụng các bài thực hành hoặc kiểm tra các kĩ năng trong các bài trắc nghiệm (liệt kê các thủ tục, xem xét lỗi có thể phát sinh, lựa chọn giải pháp từ dữ kiện sẵn có v.v.).
Ví dụ: sau khi sinh viên hiểu được đặc tính “lưu trữ tạm thời” của RAM, trong quá trình sử dụng máy tính hoặc lập trình, tất cả các dữ liệu cần được lưu xuống đĩa cứng. Và trước khi tắt máy, họ luôn phải lưu các tài liệu đang làm việc để đề phòng mất dữ liệu.
Phân tích
Phân tích là khả năng xé nhỏ vấn đề thành các khái niệm thành phần có quan hệ hữu cơ với nhau để tìm hiểu bản chất của vấn đề. Với khả năng phân tích, người học đi đến bản chất của sự vật hay khái niệm, là tiền đề quan trọng để lấy chất liệu tổng hợp hoặc phê phán, từ đó đi tới sáng tạo cái mới.
Ví dụ: trong quá trình sử dụng máy tính, người dùng có thể thấy máy tính bị chậm đi sau một khoảng thời gian nhất định. Với hiểu biết về “không gian lưu trữ” với “dung lượng giới hạn”, và toàn bộ quá trình xử lí của máy tính, sinh viên có thể hiểu được máy chậm có thể do bộ nhớ bị chiếm dụng nhiều. Từ đó đi đến các xử lí cần thiết như để máy tính chạy nhanh hơn.
Tổng hợp
Tổng hợp là khả năng thu nhặt các thành phần rời rạc, vốn không bộc lộ rõ các mối liên kết thành ra một chỉnh thể. Đây là mức cao hơn của tri thức. Hệ quả của phương pháp tổng hợp thường là các cải tiến, sản phẩm mới hoặc lý thuyết mới.
Ví dụ:  với hiểu biết về cách thức lưu trữ dữ liệu của RAM, kết cấu và thiết kế về các loại bộ nhớ khác trong máy tính, kĩ sư phần mềm có thể đưa ra các cải tiến về thiết kế chương trình sao cho chương trình chạy hiệu quả hơn. Với các kĩ sư phần cứng, có thể họ sẽ đề xuất một thiết kế mới cho thế hệ RAM tiếp theo.
Đánh giá
Đánh giá là khả năng đưa ra các phán xét hay-dở, tốt-xấu, tiến bộ – lạc hậu, phù hợp – không phù hợp v.v., về các vật liệu, kĩ thuật, khái niệm hay phương pháp. Để có được sự đánh giá, thông thường người học phải có khả năng phân tích vấn đề để rõ ngọn ngành, tổng hợp và so sánh từ nhiều nguồn, từ đó đưa ra các nhận định cuối cùng. Đây là mức cao nhất của trí tuệ. Kết quả của đánh giá thường làm phát  lộ các tri thức mới, phủ định các tri thức đã biết, hoặc ít ra là tái khẳng định với các căn cứ xác đáng phương pháp hay vật liệu (materials) được nghiên cứu.
Ví dụ: Lập trình viên có thể đưa ra các đánh giá các phương án lưu trữ dữ liệu trên RAM trên một máy tính như hiện tại, hay lưu trữ dữ liệu trên nhiều máy tính, hoặc kết hợp với việc lưu trữ dữ liệu xử lí trên đĩa cứng để so sánh xem các phương pháp nào hiệu quả hơn về mặt xử lí, và đề xuất các giải pháp hoàn toàn mới tốt hơn.
Càng ở bậc học cao hơn thì yêu cầu về các mức tri thức cao hơn càng quan trọng. Các mục tiêu giáo dục ở bậc học phổ thông thường dừng ở hai mức Biết-Hiểu; ở bậc học thiên về thực hành (trung cấp, cao đẳng nghề) thì mục tiêu chủ yếu là Biết-Hiểu-Dùng, bậc học đại học thường có thêm các mục tiêu ở mức Phân tích và có thể có Tổng hợp và Đánh giá ở một số môn học. Các khóa học sau đại học chủ yếu đặt mục tiêu thuộc hai mức cuối cùng trong thang phân loại Bloom. Một trong những mục tiêu phổ quát của giáo dục là khả năng giải quyết vấn đề (problem-solving), vấn đề càng phức tạp thì tri thức và kĩ năng yêu cầu để giải quyết càng cao cấp hơn. Khi đó, người học cần có khả năng phân tích sắc bén, tổng hợp tri thức một cách hệ thống, cũng như có khả năng phản biện và đánh giá để có thể đưa ra giải pháp tốt nhất.
Phân loại Bloom và Phong cách học tập
Đối với người học, việc tiếp cận các mức trí năng sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới phong cách học tập. Do vậy giảng viên cần định hướng phong cách phọc tập tập cho sinh viên để họ đạt được thành quả cao hơn trong học tập.
Hình dưới đây mô tả hai phong cách học tập khác nhau khi sinh viên tiếp nhận các loại tri thức khác nhau theo phân loại của Bloom. Theo đó, nếu chỉ quan tâm tới các tri thức thuộc loại Biết và Hiểu, sinh viên đang tiếp cận hời hợt (surface learning), khó thành công trong phát triển năng lực bản thân; để thành công trong học tập, người học cần tiếp cận các mức độ tri thức cao hơn (phong cách deep-learning).
Phong cách học _ Bloom




Phần 1: Sơ bộ về các lý thuyết của Bloom, Dreyfus và Kolb( lý thuyết Bloom)



2012/05/27

Từ Wi-Fi 5G, luận bàn về tương lai của công nghệ truyền dẫn không dây

Ngày 6/1/2012 vừa qua, Wi-Fi 5G chính thức được giới thiệu ra công chúng. Bài viết sẽ chỉ ra những điểm ưu việt của chuẩn Wi-Fi trên, qua đó đưa ra một số dự đoán về công nghệ mạng không dây trong tương lai gần.


Sự ra mắt của Wi-Fi thế hệ thứ 5




Ngày 6/1/2012, nhà sản xuất chip Wi-Fi Broadcom giới thiệu chip đầu tiên theo chuẩn 802.11ac, cung cấp vùng phủ sóng và tốc độ vượt trội so với chip Wi-Fi chuẩn 802.11n. Broadcom đề nghị gọi tên các sản phẩm dùng chip Wi-Fi tiêu chuẩn 802.11ac là Wi-Fi 5G, vì 802.11ac là tiêu chuẩn IEEE thế hệ thứ 5 cho công nghệ mạng không dây phổ dụng.


Chuẩn 802.11ac mở ra khả năng truyền tải các nội dung chất lượng cao (như video HD) trong lĩnh vực phạm vi gia đình một cách dễ dàng. Ngoài ra, đây cũng là xu thế tất yếu bởi người dùng luôn cần một mạng Wifi nhanh hơn để kết nối các thiết bị cá nhân. Hiện tại, 802.11ac mới chỉ được thử nghiệm ở chế độ dự thảo (draft) và khoảng cuối năm nay sẽ được chính thức ra mắt công chúng.


Tuy nhiên, với một số sản phẩm mẫu như Buffalo AirStation WZR-D1800H (được giới thiệu tại CES 2012), một số nhận định về những thay đổi mà 802.11ac mang lại đã có thể được kiểm chứng. Bài viết dưới đây sẽ chỉ ra những điểm ưu việt của Wi-Fi 5G, qua đó đưa ra một số dự đoán về công nghệ mạng không dây trong tương lai gần.


Wi-Fi 5G so với những phiên bản tiền nhiệm


Bảng: So sánh 802.11n và 802.11ac

802.11n
(Wi-Fi chuẩn N)
802.11ac
(Wi-Fi 5G)
Tương thích ngược
802.11a, 802.11b, 802.11g
802.11n
Băng tần hỗ trợ
2.4GHz và 5GHz
Chỉ 5GHz
Số băng tần trên thiết bị phần cứng
Cả băng tần đơn và băng tần kép
Luôn là băng tần kép
(Phát sóng chuẩn N với băng tần 2.4GHz)
Số luồng phát sóng
1 luồng, 2 luồng, 3 luồng
1 luồng, 2 luồng, 3 luồng
Độ rộng băng thông
20MHz, 40MHz
20MHz, 40MHz, 80MHz, 160MHz
Tốc độ truyền tải tối đa
150Mb/giây, 300Mb/giây, 450Mb/giây
450Mb/giây, 900Mb/giây, 1350Mb/giây
Tốc độ truyền tải

So sánh tốc độ: 802.11n vs 802.11ac.
Giữa 802.11ac và 802.11n, tồn tại một số điểm khác biệt quan trọng. Trước tiên, 802.11ac cho phép tốc độ truyền tải trung bình cao gấp 3 lần 802.11n – qua đó giúp Wi-Fi 5G trở thành chuẩn Wi-Fi đầu tiên vượt qua ngưỡng 1Gb/giây. Nên nhớ rằng, cho đến năm 2009, tốc độ tối đa của Wi-Fi chuẩn N cũng chỉ khoảng trên 100 Mb/giây mà thôi.


Vậy mức tăng trưởng tốc độ này do đâu mà có? Độ rộng băng thông mà 802.11ac cung cấp có thể lên tới 160MHz, cao gấp 4 lần so với chuẩn N, và 8 lần so với các chuẩn a,b,g. Thêm vào đó, tương tự như chuẩn N, chuẩn 802.11ac cho phép phát sóng theo tối đa 3 luồng, từ đó tăng băng thông theo cấp số nhân.


Băng tần


Khác biệt giữa băng tần 2.4GHz và 5GHz


Một điểm đáng chú ý khác, là việc 802.11ac chỉ hoạt động duy nhất trên băng tần 5GHz. So với 2.4GHz, băng tần này có ưu điểm là tránh được can nhiễu của các thiết bị gia dụng khác; tuy nhiên, phạm vi phủ sóng lại khá nhỏ. Để vượt qua hạn chế này, 802.11ac sẽ sử dụng công nghệ chùm tín hiệu gửi và nhận (Beamforming). Công nghệ chùm tín hiệu được thiết lập tùy chọn trong tiêu chuẩn kỹ thuật chuẩn 802.11n, nhưng là yêu cầu bắt buộc trong chuẩn 802.11ac. Ngày nay, hầu hết các thiết bị hỗ trợ chuẩn 802.11n đều sử dụng phương pháp truyền nhận tín hiệu đa hướng (MIMO).


Vấn đề tương thích ngược với các thiết bị hỗ trợ Wi-Fi chuẩn N 2.4GHz cũng được giải quyết ổn thỏa, khi các nhà sản xuất đưa ra giải pháp: Router Wi-Fi thế hệ thứ 5 sẽ cung cấp song song sóng 802.11ac trên băng tần 5GHz và sóng 802.11n trên băng tần 2.4GHz. Vì vậy, các thiết bị hỗ trợ Wi-Fi chuẩn N sẽ chắc chắn kết nối được với các Router đời mới. Trong tương lai, khi chuẩn 802.11ac trở thành phổ biến, tính năng này có thể được gạt bỏ.


Hiệu năng thực tế


Buffalo AirStation WZR-D1800H - một trong những Router Wi-Fi 5G đầu tiên.
Tốc độ truyền dẫn dữ liệu của Wi-Fi 5G, trên thực tế, phụ thuộc nhiều vào điều kiện môi trường, vật cản và khoảng cách giữa nguồn phát sóng - nguồn nhận sóng. Dù chưa đạt đến mức hiệu năng lý thuyết, nhưng trong một số thử nghiệm, Wi-Fi 5G cung cấp tốc độ truyền dẫn dữ liệu khá ấn tượng. Sử dụng các Router demo từ Buffalo và Netgear, chuẩn 802.11ac cho phép phát đồng thời 4 bộ phim với độ phân giải 1080p lên 4 HDTV khác nhau, mức hiệu năng không tưởng so với chuẩn N.


Tốc độ truyền dẫn trên cũng có những ảnh hưởng tích cực đến thời lượng pin các thiết bị di động tích hợp Wi-Fi 5G. Hiểu một cách đơn giản, trong cùng một khoảng thời gian, Wi-Fi 5G và Wi-Fi chuẩn N khiến các thiết bị hao hụt một lượng pin như nhau; tuy nhiên, thời gian truyền dẫn cùng một lượng dữ liệu của 5G chỉ bằng 1/3 so với chuẩn N, do đó mức năng lượng tiêu thụ cũng nhỏ hơn.


Tương lai công nghệ truyền dẫn dữ liệu


Thông minh hơn


So sánh cách truyền sóng giữa nguồn phát Wi-Fi chuẩn N và Wi-Fi 5G.


Giống với kết nối WiGig đã được Genk giới thiệu, Wi-Fi 5G cũng được tích hợp Beamforming – công nghệ cho phép bắn các chùm sóng đến đúng mục tiêu với hiệu suất tốt nhất, giảm thiểu lãng phí trong quá trình truyền tải. Lợi ích mà Beamforming mang lại có thể được mô tả ngắn gọn với so sánh sau, giữa 2 thiết bị phát sóng - một sử dụng chuẩn N, một hỗ trợ Wi-Fi 5G.


Sử dụng phương pháp MIMO (Multiple Input Multiple Output), thiết bị phát Wi-Fi chuẩn N chia gói dữ liệu ra thành nhiều phần, mỗi phần được gọi là một luồng dữ liệu và phát từng luồng dữ liệu qua các anten riêng rẽ. Do gặp phải các vật cản, những tín hiệu này sẽ qua các bộ định tuyến, đến các anten thu ở những thời điểm khác nhau. Wi-Fi 5G thì khác. Với Beamforming, gói dữ liệu sẽ được truyền trực tiếp, chính xác từ anten phát đến anten thu xác định, qua đó tiết kiệm băng thông đáng kể. Hiệu quả mà công nghệ này mang lại sẽ còn cao hơn nữa, trong trường hợp điểm phát sóng có nhiều anten.


Nhanh hơn








Mức hiệu năng của Wi-Fi 5G là rất đáng nể, nhưng hãy nhớ rằng băng tần mà chuẩn Wi-Fi này hỗ trợ vẫn chỉ dừng lại ở 5GHz. Theo nhiều nhận định, trong tương lai băng tần 60GHz sẽ được sử dụng; và hầu hết các router sẽ hỗ trợ ba băng tần 2.4, 5 và 60GHz cùng lúc. Băng tần này cho phép tốc độ truyền tải nhanh hơn đáng kể, tuy nhiên chỉ trong một phạm vi rất ngắn – các nhà sản xuất đang nghiên cứu các biện pháp để khắc phục nhược điểm này.


Một nhà sản xuất thiết bị với băng tần 60GHz cho biết: “5-7 Gigabit/giây – tốc độ tương đương với USB 3.0 - là con số hoàn toàn khả thi với Wi-Fi 60GHz.”. Tốc độ trên sẽ khiến việc truyền tải phim chất lượng cao, game 3D, các file có dung lượng lớn, … qua lại giữa các thiết bị di động với nhau trở nên nhanh chóng và thuận tiện hơn hiện nay rất nhiều.


Wi-Fi sẽ dần thay thế hoàn toàn phương thức truyền dữ liệu qua dây dẫn


Mạng không dây có thay thế hoàn toàn mạng dây?
Nếu các dự đoán trên trở thành sự thực, Wi-Fi sẽ dần trở thành hình thức truyền dẫn dữ liệu cự li gần phổ biến nhất. Tốc độ Wi-Fi đang dần vượt xa tốc độ truyền dẫn Internet, và tiếp cận tốc độ truyền dẫn bằng cáp gia dụng. 5-7 Gigabit/giây, tương đương với gần 1 Gigabyte/giây, khiến cho những bó dây dẫn loằng ngoằng và những thiết bị hỗ trợ nhiều cổng kết nối trở nên thừa thãi.


Không chỉ dừng lại ở 802.11ac, công nghệ Wi-Fi sẽ tiếp tục hướng đến những tiêu chuẩn mới. Wi-Fi Alliance đang xúc tiến thực hiện dự án Passpoint – dự án kết nối các điểm truy cập Wi-Fi công cộng thành một mạng chung như mạng … điện thoại. Một loạt chứng chỉ mới như Voice-Enterprise hay chứng chỉ về tính năng tiết kiệm năng lượng cho Wi-Fi cũng sắp sửa được tổ chức này cho ra mắt. Ngoài ra, Wi-Fi Alliance cũng đang phát triển những tiêu chuẩn về một mạng lưới thông minh sử dụng Wi-Fi để kết nối và quản lý đồng thời các thiết bị gia dụng, thiết bị điện tử và thiết bị di động. Những dự án, chứng chỉ và tiêu chuẩn này dự kiến sẽ được giới thiệu trước nửa cuối năm 2013.


Thay cho lời kết: Liệu có tồn tại hai chữ “Hoàn toàn”


Không thể phủ nhận, các tiêu chuẩn Wi-Fi đang ngày càng hoàn thiện, và mức độ phổ biến của phương thức truyền tín hiệu này cũng tăng lên nhanh chóng theo thời gian. Nhưng liệu có tồn tại một ngày, thế giới của chúng ta có thể vận hành trơn tru mà chỉ cần dựa vào những kết nối “Hoàn toàn không dây”?


Câu trả lời, rất tiếc, là Không. Tồn tại hai lý do: Thứ nhất, kết nối không dây trong phạm vi hẹp (gia đình, tổ chức) có thể dễ dàng được thiết lập; tuy nhiên, khi vấn đề được đưa lên tầm vĩ mô, rào cản về chi phí, độ ổn định và cả nguy cơ tắc nghẽn / nhiễu sóng sẽ dẫn đến một giải pháp đơn giản mà hiệu quả hơn – mạng dây.


Thứ hai, dù được coi là xu thế tất yếu của kỉ nguyên di động, về mặt bản chất, mạng Wi-Fi vẫn cần những nguồn phát cố định; và trên hết, những dữ liệu mà Wi-Fi luân chuyển vẫn được truyền tải qua hệ thống cáp quang, xử lý trên một số lượng lớn máy chủ hay thậm chí là những trung tâm dữ liệu cố định. Chưa có phương thức truyền tải dữ liệu không dây nào xứng tầm với những luồng thông tin với dung lượng cực lớn như vậy, do đó ý tưởng về một thế giới kết nối “Hoàn toàn không dây” là không khả thi, ít nhất là trong tương lai gần.


Tuy nhiên, điều mà những người tiêu dùng như chúng ta quan tâm hơn cả chính là sự tiện dụng cùng những tính năng mang lại hiệu quả cao. Xét trên tiêu chí đó, không còn nghi ngờ gì nữa, sự cải tiến không ngừng của các tiêu chuẩn Wi-Fi quả là một điều tuyệt vời.
Nguồn: Genk.vn