Hiển thị các bài đăng có nhãn Chính trị. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Chính trị. Hiển thị tất cả bài đăng

2012/11/27

Nghi án rửa tiền gây chấn động thế giới

Dư luận Anh – Mỹ nói riêng và thế giới nói chung đang không ngớt xôn xao về một cáo giác gây sốc, do ông David James, Nam tước địa hạt Blackheath trình bày trước Viện Quý tộc (Thượng nghị viện Anh), liên quan đến những vụ chuyển tiền bí mật lên tới… 15.000 tỉ USD!
Liên quan đến những vụ chuyển tiền bí mật lên tới... 15.000 tỉ USD!
Liên quan đến những vụ chuyển tiền bí mật lên tới... 15.000 tỉ USD!
Theo đó, trong một lần đăng đàn tại trụ sở Thượng viện trong Điện Westminster ở thủ đô London, Nam tước D. James đã tường trình về một tổ chức siêu mật mà ông tạm gọi là “Foundation Z” (Quỹ Z), quy tụ các nhà băng hàng đầu thế giới là Tập đoàn Ngân hàng Hongkong và Thượng Hải (HSBC) và Ngân hàng Hoàng gia Scotland (RBS) của Anh, cũng như Ngân hàng JP Morgan Chase và Cục Dự trữ Liên bang (Fed) của Mỹ.
Ngoài ra là sự can dự từ Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) và nhân vật bí ẩn Johannes Rayadi, người được giới chuyên viên tài chính sành sỏi đánh giá là “đại siêu tỉ phú” giàu nhất thế giới với số tài sản khủng khiếp lên tới hàng ngàn tỉ USD (?). J. Rayadi thực ra là một kẻ hữu danh vô thực, đang sống lẩn khuất đâu đó trong vùng “lãnh địa” mà hắn cát cứ trải dài từ Trung Quốc đến Ấn Độ, bao gồm cả khu vực Tam Giác Vàng – “cái nôi” sản xuất thuốc phiện lậu quy mô toàn cầu.
Trước đây hơn 2 năm, vào sẩm tối ngày 18/2/2010 một nhóm người nổi tiếng giấu tên mà Nam tước D. James đặt biệt danh là “Những người mũ trắng”, đã cùng nhau đến nhà ông nhằm cung cấp cho gia chủ các tài liệu, manh mối về những đợt chuyển dịch ngoại tệ khổng lồ. Cụ thể đợt thứ nhất diễn ra trong giai đoạn từ cuối tháng 4 đến đầu tháng 5/2009, 5.000 tỉ USD đã được chuyển tới Vương quốc Anh; đợt thứ hai thực hiện một tuần sau đó cũng với số tiền tương tự; gần nửa tháng sau lại thêm 5.000 tỉ USD nữa đều được chuyển đến Anh.
Tiền bẩn đến từ nhiều nguồn như buôn bán thuốc phiện, kỹ nghệ làm bạc giả, buôn người...
Tiền bẩn đến từ nhiều nguồn như buôn bán thuốc phiện, kỹ nghệ làm bạc giả, buôn người...
Mọi giao dịch khởi sự từ Ngân hàng Trung ương Mỹ, một tên gọi khác của FED ở Washington D.C đến Ngân hàng JP Morgan Chase tại New York, rồi “vượt đại dương” qua HSBC ở London tới RBS tại Edinburgh… Tổng cộng cả 3 đợt lượng tiền đã chuyển khoản lên tới  15.000 tỉ USD, tương đương 825.000 tấn vàng và gấp 1,5 lần tổng thu nhập thường niên (GDP) của nước Mỹ, quốc gia có mức GDP lớn nhất thế giới.
Vẫn theo lời Nam tước D. James, song song tồn tại 3 khả năng là nguyên nhân cơ bản của các vụ “rửa tiền kỷ lục” nêu trên. Thứ nhất là muốn hủy hoại bề dày uy tín của hệ thống ngân hàng Anh. Thứ đến là động cơ trục lợi ăn hoa hồng phần trăm trong các thương vụ chuyển tiền qua tài khoản với số lượng lớn. Cuối cùng là âm mưu dùng tài chính làm đòn bẩy hòng hạ bệ một thể chế chính trị nào đó. Với nguyên nhân đầu tiên rõ ràng, đây là lượng tiền “bẩn” không minh bạch, bởi theo nhận định từ giới am hiểu, không thể đào đâu ra số vàng bản vị khổng lồ bảo đảm trị giá thật cho việc lưu thông của 15.000 tỉ USD đó. Tiền bẩn đến từ nhiều nguồn như buôn bán thuốc phiện, kỹ nghệ làm bạc giả, buôn người…
Do vậy vô hình trung các nhà băng hàng đầu của Anh đã dính líu vào hoạt động rửa tiền, đánh mất uy tín vốn có hàng thế kỷ nay. Ở nguyên nhân thứ 2 theo thông lệ hiện hành khoản tiền hoa hồng sẽ không dưới 50 tỉ USD, tương đương với GDP của một quốc gia trung bình. Với nguyên nhân cuối cùng dựa trên câu hỏi để ngỏ, rằng sau “đích đến” là RBS, tiền sẽ tiếp tục tản mát đi những đâu?…
Nguồn tiền cung ứng cho “Quỹ Z” thực chất là của J. Rayadi gửi tại Fed. Theo tài liệu từ nhóm “Những người mũ trắng”, thì hơn phân nửa tài sản của J. Rayadi đã bị Bộ Tài chính Mỹ tịch thu hòng duy trì sự ổn định của đồng USD; đổi lại đương sự sẽ tránh được vòng lao lý từ những động thái làm giàu khuất tất. Một cuộc họp bí mật vào năm 2006 đã được xúc tiến tại Washington, bao gồm các đại diện của Fed, IMF và cá nhân J. Rayadi. Kết quả cuộc gặp này đã hình thành “Quỹ Z”, trực tiếp thực thi việc chuyển khoản lần lượt số tiền 15.000 tỉ USD ra khỏi lãnh thổ Hoa Kỳ. Tài sản còn lại của J. Rayadi trên đất Mỹ chỉ gồm số trái phiếu trị giá 500 triệu USD.
Phát hiện của Nam tước D. James khiến cả nước Anh choáng váng và gây ra một cú sốc thực sự với công luận quốc tế, trong khi giới hữu trách ở cả 2 bờ Đại Tây Dương vẫn chưa lên tiếng phản bác hay thừa nhận sự tồn tại của “Quỹ Z”. Còn Nghị viện Anh đã yêu cầu Chính phủ đương nhiệm của Thủ tướng David Cameron phải tiến hành đều tra để làm sáng tỏ vấn đề
Q.Phú (The Healers Journal)
Nguồn: Sưu tầm

2012/06/03

Không Bạc Hy Lai, mô hình Trùng Khánh về đâu?


Bỏ lại đằng sau những tin tức từ các nguồn khác nhau về nhân sự và kỷ luật nội bộ, Trung Quốc đằng sau vụ Bạc Hy Lai đứng trước một câu hỏi lớn. Đó là nhìn nhận thế nào về sự phát triển của Trùng Khánh dưới thời Bí thư Bạc, mà giới quan sát hay ví von là "mô hình Trùng Khánh".


Bên ngoài, lớp sơn thể hiện ra bằng phong trào hát những bài nhạc đỏ ca ngợi thời đại cách mạng văn hóa, cùng với chiến dịch thanh trừng các băng nhóm tội phạm. Lớp gỗ đằng sau đó bao hàm nhiều ý nghĩa. Có thể xem đó là một sự kết hợp tư tưởng xã hội chủ nghĩa truyền thống, lồng vào đó những cập nhật mới cho phù hợp với xu thế thời đại.


Thứ nhất, Bạc Hy Lai thực hiện chính sách bàn tay thép nhằm tạo ra một cuộc "thập tự chinh" chống lại giới tội phạm, tham nhũng đồng thời xây dựng những cách thức nhằm gia tăng tinh thần và lòng nhiệt thành cách mạng. Theo Bloomberg cho hay, thực chất việc phát động chiến dịch chống lai giới xã hội đen, là nhằm tịch thu tài sản, nguồn lực và tăng cường năng lực chính trị cho bản thân. Chưa kể đến việc Bạc Hy Lai cũng cố gắng tạo ra, dù với quy mô rất nhỏ, dấu hiệu của sự sùng bái cá nhân phổ biến.

Thứ hai, Bí thư Bạc nhấn mạnh đến tầm quan trọng của các công ty hay tập đoàn quốc doanh và coi đó như xương sống của nền kinh tế. Hàng loạt các dự án tham vọng được ông lập ra. Trùng Khánh được ví như Chicago của Trung Quốc. Các khoản tiền khổng lồ cần thiết để hiện thực hóa các tham vọng đó được tập hợp bởi 8 công ty tài chính địa phương, tất cả đều thuộc sở hữu của chính quyền Trùng Khánh. Các công ty này đã đi vay các khoản tiền khổng lồ, mà theo tính toán của ngân hàng Merrill Lynch (Mỹ) là vào khoảng 7600 tỷ nhân dân tệ (121 tỉ USD).

Một góc thành phố Trùng Khánh nhìn từ trên cao

Để thế chấp vay vốn, họ sử dụng đất đai và lấy giá trị đất "sốt ảo" trong suốt những năm bất động sản tăng nóng để làm tăng giá trị tái đầu tư. Chủ trương "bơm mạnh tài chính để nâng cấp hình ảnh các dự án cơ sở hạ tầng và nhà ở" mà ông Bạc đề xuất đang đẩy Trùng Khánh vào nguy cơ phải hứng chịu gánh nặng nợ nần. Trên thực tế, Trùng Khánh chính là dựa vào những khoản vay lớn để tăng trưởng và dựa vào đất đai để trả nợ, những yếu tố được coi là không ổn định.

Thứ ba, liên quan đến vấn đề lao động và quản lý. Các liên đoàn lao động ở Trùng Khánh đều nằm dưới sự quản lý của chính quyền. Một khi các cuộc đình công xảy ra, Trùng Khánh thường trả lời một cách cứng rắn và theo kiểu áp đặt rất lớn. Điển hình như vụ đình công của giới tài xế taxi năm 2008, khi đó Bí thư Bạc sắp xếp một cuộc gặp bất thường có truyền hình trưc tiếp để dàn xếp. Thế nhưng sau đó lại phát động một chiến dịch chống tội phạm với kết quả là một doanh nhân tổ chức cuộc đình công bị kết án 20 năm tù vì tội gây rối loạn trật tự công cộng.

Trong suốt những năm vừa qua, Trùng Khánh - đô thị được coi là lớn nhất Trung Quốc với 32 triệu dân - được coi là biểu tượng của sự phát triển. Kể từ khi Bạc Hy Lai lên làm Bí thư, GDP của Trùng Khánh từ năm 2007 - 2011 trung bình đạt 15,8%/năm, cao hơn nhiều so với mức trung bình 10,5% của cả nước. Mô hình Trùng Khánh trở thành một mô hình tăng trưởng được rất nhiều người kỳ vọng, kể cả một số nhân vật tinh hoa trong giới lãnh đạo Bắc Kinh. Với việc Bạc Hy Lai bị cách chức, những chính sách mà ông áp dụng với Trùng Khánh đang bị xem xét lại.

Đặc biệt, bên cạnh những thành tích bề nổi, Trùng Khánh luôn bị cạnh tranh với mô hình Quảng Đông của Bí thư Uông Dương, được xem như một kết hợp giữa quá trình tự do hóa nền kinh tế và sự cởi mở hơn nữa trong các định chế chính trị và quyền lực. Một cách ngắn gọn, mô hình Quảng Đông là kết hợp giữa quá trình tự do hóa nền kinh tế và sự cởi mở hơn nữa trong các định chế chính trị và quyền lực. Nó dường như trái ngược hoàn toàn với Trùng Khánh của Bạc Hy Lai, với sự tập trung quyền lực mạnh mẽ theo kiểu Mao Trạch Đông và sư ưu tiên thái quá vào các tập đoàn, công ty thuộc nhà nước.

Trong những năm đầu sau khi lên làm Bí thư, Uông Dương theo đuổi đường lối tự do kinh tế. Ông đã thực hiện những chính sách nhằm đẩy nhanh cải cách, hiện đại hóa khu vực công nghiệp tại Quảng Đông và tuyên bố rằng đã đến lúc phải "mở lồng và thay đổi những con chim trong đó" (open the cage and change birds). Quá trình xây dựng một nền công nghiệp hiện đại tiến triển tốt đẹp, sự phát triển được chia đều cho cả thành thị và nông thôn. Với định nghĩa nền kinh tế là một miếng bánh, Uông Dương chú trọng vào chất lượng của miếng bánh đó hơn là kích thước.

Một trong những biện pháp nổi bật của ông là tăng lương cơ bản 18,6% vào tháng 1 năm 2011, theo sau đợt tăng 21,1% vào năm 2010. Mục đích của hai đợt tăng lương này là nhằm giúp công nhân có được thu nhập tốt hơn cũng như khuyến khích những ngành công nghiệp dựa nhiều vào nhân công cải thiện công nghệ của mình và nâng cao tính cạnh tranh. Về dài hạn, điều này sẽ mang lại hiệu quả rất tích cực, nhưng trong ngắn hạn sẽ tương đối khó khăn đối với các công ty thuộc những ngành ảnh hưởng bởi chính sách tăng lương.

Bên cạnh những vấn đề về dân nhập cư, Uông Dương cũng đối mặt với sự nổi lên mạnh mẽ của tấng lớp trung lưu và trí thức. Trong Phiên họp toàn thể của Đảng bộ Quảng Đông vào tháng 1 năm 2011, kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 5 năm tiếp theo nhấn mạnh đến việc tăng cường sự hoạt động của chính quyền thông qua thực hiện luật pháp. Bí thư Uông Dương lần đầu tiên đề cập tới khái niệm "Quảng Đông hạnh phúc", đây là một bước đi nhằm tăng cường sự hiệu quả của hệ thống xã hội (xã hội kiến thiết), bắt đầu bằng việc tái cấu trúc xã hội từ dưới lên. Mục đích là tạo ra một xã hội với độ mở cao hơn, bằng việc thiết lập những cơ chế giúp người dân giám sát và phản hồi những chính sách của chính quyền.

Sự cạnh tranh của Quảng Đông là biểu hiện bên ngoài cho xu thế chạy đua về mô thức phát triển, nhưng không phải là nguyên nhân cốt lõi dẫn đến "quyết định" loại bỏ "mô hình Trùng Khánh". Mấu chốt nằm ở yếu tố khác. Công cuộc cải cách của Đặng Tiểu Bình và chính sách mở cửa vào năm 1978 đạt được hai thành quả quan trọng cốt lõi. Một là mở rộng vai trò của những doanh nghiệp tư nhân và liên doanh, trong đó có liên doanh giữa ngoại quốc và địa phương. Hai là dung hòa các đánh giá về di sản chính trị nhiều tranh cãi của Mao Trạch Đông, với nhận xét "sai lầm ba phần, đúng đắn bẩy phần".

Khi Bạc đụng vào hai vấn đề này khi đòi quay lãi sự chủ đạo của các công ty quốc doanh, khuyến khích phát triển doanh nghiệp nhà nước thay cho doanh nghiệp tư nhân, điều này gây khó chịu cho các nhóm ủng hộ cải cách.

Hơn nữa, việc đề cao nhu cầu công bằng xã hội, qua việc đòi chia miếng bánh kinh tế lại đồng đều cho tất cả các thành phần tham gia, trong khi đó lại nhấn mạnh phương thức của Mao vào cá nhân lãnh đạo, khiến Bạc và mô hình phát triển của ông đi lệch khỏi tất cả đường ray về các hình dung về mô thức chính trị và lãnh đạo tại đất nước 1,4 tỷ dân này. Đó là một lý do chính, khiến "Trùng Khánh" thành tâm điểm của các phe chỉ trích.

"Mô hình Trùng Khánh" sẽ bị cáo chung theo sự nghiệp chính trị của Bí thư Bạc là nhận định chung từ các giới quan sát. Tuy vậy, trong một tình trạng "giữa ngã ba đường" về lựa chọn phát triển và cũng như xu hướng "dò đá qua sông" như lời của Đặng Tiểu Bình, thì có thể đây chỉ là một sự chấm dứt về chính sách trong thời điểm hiện tại. Mô hình hay tư tưởng tương tự kiểu Trùng Khánh có thể sẽ quay trở lại, và ở một dạng biến hình nào đó.

Nguyễn Thế Phương

Nguồn: VEF.vn

2012/05/02

Phó Chủ tịch Hưng Yên báo cáo Thủ tướng vụ Văn Giang


Cập nhật 02/05/2012 02:33:00 PM (GMT+7) 
Tại hội nghị trực tuyến toàn quốc về công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo sáng nay, Phó Chủ tịch thường trực UBND tỉnh Hưng Yên Nguyễn Khắc Hào đã báo cáo Thủ tướng vụ cưỡng chế, thu hồi đất ở huyện Văn Giang.

Theo ông Nguyễn Khắc Hào, trong 8 vụ việc khiếu kiện phức tạp kéo dài ở Hưng Yên hiện nay, có 6 vụ cá biệt dai dẳng, 2 vụ đông người. Đặc biệt và điển hình nhất là công dân 3 xã Cửu Cao, Phụng Công, Xuân Quan thường xuyên lôi kéo đông người lên tỉnh, các cơ quan TƯ để kiến nghị và tố cáo 9 nội dung liên quan đến dự án khu đô thị thương mại du lịch Văn Giang (Ecopark).

Ông Hào đã dành hơn 10 phút để báo cáo về vụ việc này với Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc.

VietNamNet trích đăng báo cáo này:

Dự án khu đô thị Văn Giang được phê duyệt và thực hiện từ năm 2004 theo công thức sử dụng quỹ đất để tạo vốn xây dựng cơ sở hạ tầng, trình tự thủ tục thực hiện triển khai tuân thủ theo đúng quy định của pháp luật, được địa phương, các bộ ngành hữu quan của TƯ thẩm định kỹ lưỡng. Dự án có quy mô đầu tư, hạ tầng đồng bộ, hiện đại, từ dự án này, tạo vốn xây dựng tuyến đường liên tỉnh Hà Nội - Hưng Yên, có ý nghĩa quan trọng trong phát triển KTXH không chỉ của Văn Giang mà còn cả của Hưng Yên và vùng Thủ đô Hà Nội. Chủ trương là đúng đắn, nhằm phát triển KTXH, đẩy nhanh công nghiệp hoá, hiện đại hoá của tỉnh Hưng Yên, phù hợp quy hoạch tổng thể phát triển KTXH tỉnh đến năm 2020, quy hoạch vùng tỉnh Hưng Yên đến 2020 và định hướng 2030, quy hoạch vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ và quy hoạch vùng Thủ đô Hà Nội.

Phó Chủ tịch thường trực UBND tỉnh Hưng Yên Nguyễn Khắc Hào báo cáo Thủ tướng vụ cưỡng chế, thu hồi đất ở huyện Văn Giang. Ảnh: Chung Hoàng

Triển khai dự án, UBND tỉnh và các nhà đầu tư đã rất quan tâm áp dụng các chính sách đền bù hỗ trợ giải phóng mặt bằng và các biện pháp giải quyết việc làm cho người dân bị thu hồi đất, thực hiện theo đúng pháp luật, chế độ tại thời điểm. Dự án được thực hiện với cơ chế chính sách đền bù hỗ trợ cao nhất tại thời điểm trên địa bàn tỉnh và là dự án duy nhất được giao đất đền bù liền kề để chuyển đổi nghề nghiệp cho người dân có đất bị thu hồi.

Sau khi dự án được phê duyệt vào năm 2004, năm 2009 tỉnh mới bàn giao được đợt 1 cho nhà đầu tư 57,19 ha để làm đô thị và làm đường giao thông liên tỉnh, nhà đầu tư đã cơ bản hoàn thành đầu tư xây dựng các hạng mục công trình trên diện tích đất đã giao theo đúng quy hoạch được duyệt và phát huy hiệu quả. Đến nay đã có 3852/4876 hộ của 3 xã đã nhận tiền đền bù hỗ trợ, chiếm 79%. Còn 1024 hộ chưa nhận, bằng 21%. Tuy vậy, đến nay đã hơn 8 năm, tỉnh vẫn chưa hoàn thành việc chuyển giao đất cho nhà đầu tư, do người dân khiếu kiện liên tục, tụ tập đông người, lôi kéo kích động, cản trở, không hợp tác, gây nên tình hình phức tạp kéo dài ở 3 xã của huyện Văn Giang trong năm qua, ảnh hưởng tới sản xuất, đời sống của nhân dân.

Tôi xin báo cáo chi tiết thêm về việc ngày 24/4/2012 vừa qua đã hỗ trợ thi công và cưỡng chế giải phóng mặt bằng để bàn giao đất cho dự án.

Diện tích đất canh tác xã Xuân Quang là 294,6ha, diện tích đất thu hồi để triển khai dự án 129,ha, 107ha đất nông nghiệp, chiếm 36,32% diện tích đất canh tác. Đợt 1 đã bàn giao 57,19ha và vừa rồi bàn giao 72ha. Tổng số hộ đã nhận tiền đền bù hỗ trợ và tự nguyện bàn giao đất là 1554/1720 hộ, chiếm 95,5%. Còn lại chỉ còn 5,8ha của 166 hộ chưa nhận tiền đền bù hỗ trợ, chiếm 4,5% phải tiến hành cưỡng chế. Số hộ trên vẫn còn diện tích đất canh tác chứ không phải thu hồi toàn bộ.

Sau gần 8 năm, các cấp các ngành của tỉnh đã tập trung xem xét giải quyết thoả đáng những kiến nghị chính đáng của người dân, đồng thời trả lời những tố cáo sai sự thật, không có căn cứ. Hưng Yên đã kiên trì tuyên truyền vận động thuyết phục từng hộ dân. Gần đây sau nhiều tháng rà soát các trình tự, thủ tục pháp lý của dự án, các ngành chức năng chuẩn bị kỹ lưỡng, chặt chẽ các phương án đảm bảo an toàn, ngày 4-5/4 vừa qua, UBND huyện Văn Giang đã ra quyết định cưỡng chế đối với 5,8 ha của 166 hộ dân của xã Xuân Quan.

Chúng tôi nhận thức rằng khi đã có chủ trương đúng, hiệu quả KTXH cao, đúng các quy định của pháp luật, được đông đảo nhân dân đồng tình ủng hộ, thì không thể vì một số người chống đối mà không triển khai thực hiện chủ trương đó.

Ngày 22/4 vừa qua, dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Bí thư Tỉnh uỷ, Chủ tịch UBND tỉnh, các cơ quan chức năng của tỉnh và sự hỗ trợ tích cực của Bộ Công an, các lực lượng hỗ trợ thi công và cưỡng chế của huyện Văn Giang đã thực hiện tốt các phương án đề ra, đảm bảo an toàn về người và tài sản.

Sau cưỡng chế, tình hình nhân dân 3 xã ổn định, nhiều hộ dân không nhận tiền hỗ trợ đền bù đã nhận ra sai lầm vì nghe nhóm chống đối xúi giục và kích động.

Từ việc khiếu kiện đông người của một bộ phận người dân ở 3 xã trong vùng dự án ở Văn Giang đến việc tổ chức cưỡng chế vừa rồi, chúng tôi xin rút ra một số nhận thức và bài học bước đầu trong lãnh đạo chỉ đạo và công tác tiếp dân, giải quyết khiếu nại tố cáo.

Thứ nhất là, phát huy dân chủ phải đi liền với kỷ cương pháp luật, trong từng vụ việc cụ thể cần được xem xét thấu đáo, có lý có tình, nhất là phải đúng quy định của pháp luật. Những người lợi dụng dân chủ, móc nối với những phần tử tiêu cực, bất mãn, phản động trong nước và nước ngoài, cố tình chống phá chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, đi ngược lại lợi ích của nhân dân, kìm hãm sự phát triển, thì nhất định phải có biện pháp xử lý kiên quyết.

Trong vụ việc ở Văn Giang, có sự móc nối chặt chẽ với những phần tử chống đối ở nước ngoài. Các thông tin thậm chí còn được tường thuật tại chỗ, từng giờ, để tuyên truyền xuyên tạc, dàn dựng những video clip giả để vu khống, bôi nhọ chính quyền.


Thứ hai, về phía tỉnh, có sự chỉ đạo tập trung thống nhất cao của các cấp uỷ đảng, chính quyền, MTTQ, các đoàn thể. Tăng cường công tác tiếp công dân, coi trọng tuyên truyền, vận động nhân dân và không nóng vội. Chủ tịch UBND tỉnh đã tổ chức đối thoại trực tiếp với người dân 3 xã, quan tâm giải quyết các quyền và lợi ích chính đáng của người dân, theo đúng các quy định của pháp luật. Phối hợp chặt chẽ với báo chí và các cơ quan tuyên truyền. Trước khi thực hiện các biện pháp hỗ trợ thi công, cưỡng chế, Hưng Yên tổ chức họp báo với 21 cơ quan báo chí TƯ và tỉnh. Trong quá trình thực hiện, đảm bảo đúng trình tự pháp luật và tổ chức rà soát kỹ lưỡng các trình tự thủ tục trước khi thực hiện các biện pháp hỗ trợ thi công, cưỡng chế, đồng thời có những giải pháp chặt chẽ đảm bảo an toàn cho người và tài sản.

Chung Hoàng ghi
Nguồn: Vietnamnet.vn

2012/04/25

Thị trường nhà đất méo mó vì cơ chế 2 giá

Ngày 25 tháng 04 năm 2012.
Ảnh minh họa: Cơ chế hai giá làm méo mó thị trường bất động sản - Ảnh: Internet 
Nhận định của Ngân hàng thế giới (WB) trong báo cáo Đánh giá đô thị hóa ở Việt Nam vừa được công bố trong tháng 4, thị trường nhà đất của Việt Nam đang méo mó vì cơ chế 2 giá.

Tại Việt Nam, khi Nhà nước thu hồi đất thì tiền đền bù được tính trên khung giá đất ấn định sẵn. Tuy nhiên, sau khi đất được chuyển giao cho nhà đầu tư để xây dựng dự án hay bán lại, thì chủ đầu tư lại áp theo giá thị trường. Giá Nhà nước, ngoài việc ấn định cho các hoạt động thu hồi, bồi thường, giao mặt bằng… còn được áp dụng để tính giá trị đất đai sử dụng cho việc góp vốn trong liên doanh, và cả việc tính thuế chuyển nhượng đất cho người sử dụng mới.

Một nghiên cứu về tỷ lệ chênh lệch giữa giá Nhà nước và giá thị trường đất đai, bất động sản (gọi chung là nhà đất) năm 2009 khiến nhiều người… ngã ngửa. Tại TP HCM, nhà đất đường Hai Bà Trưng (Q.1), giá Nhà nước tối đa là 48 triệu đồng/m2, trong khi giá chào bán trên thị trường là 293 triệu đồng/ m2, chênh lệch đến 600%, hoặc như đất mặt đường Tú Xương (Q.3), giá Nhà nước là 22 triệu đồng/m2 trong khi giá thị trường là 213 triệu đồng/m2, tăng đến 970%... Đội giá kinh khủng nhất phải tính đến các quận và huyện vùng ven, ví dụ, nhà đất đường Đỗ Xuân Hợp (Q.9) có giá Nhà nước là 3,5 triệu đồng/m2 nhưng giá thị trường đến 40 triệu đồng/m2, tức là tăng đến 1.140%. Thậm chí, đường Lê Văn Lương, huyện Nhà Bè, giá Nhà nước chỉ 2,2 tiệu đồng/m2, trong giá thị trường lên đến 28,7 triệu đồng/m2, gấp 1.300%.

WB phân tích, cơ chế hai giá đã gây nên sự hoán chuyển những giá trị và lợi ích lớn, nhưng lại tạo kẽ hở cho hành vi thông đồng giữa hai nhóm quyền lực là các công ty xây dựng, các nhà đầu tư, đầu cơ và các quan chức nhà nước (với tư cách người thực thi những chính sách, quy định tạo ra những lợi nhuận này). Tình trạng này càng tạo điều kiện cho sự tồn tại của việc duy trì cơ chế hai giá.

Cơ chế hai giá cũng là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến tranh chấp xung vấn đề thu hồi đất. Theo báo cáo của bộ Tài nguyên môi trường, giai đoạn 1993 - 1995 khi giá thị trường và giá nhà nước còn chưa cách nhau quá xa, những kiện tụng, khiếu nại về việc áp giá trong thu hồi đất khoảng 800 vụ. Tuy nhiên, từ gia đoạn 1996 - 2005, khi hai giá này chênh lệch nhau quá cao, số vụ việc tăng đến 12.708 vụ. Diện tích đất đai vướng vào tranh chấp càng lớn, dẫn đến hệ lụy là tỷ lệ dự án hoàn thành giảm đáng kể, xuất hiện tình trạng ứ đọng càng đẩy cao giá thị trường nhà đất. Hậu quả của quá trình trên không chỉ làm méo mó thị trường mà ngày càng đào sâu khoảng cách giữa hai giá. Ngoài ra, khung giá đất thấp một cách giả tạo cũng khuyến khích tình trạng bán đất tràn lan, đẩy nhanh hiện tượng đô thị hóa không kiểm soát, gắn liền với nó là hiệu quả sử dụng cơ sở hạ tầng thấp, chi phí đầu tư cao. Nhà nước đang bị vướng vào cơ chế hai giá đem lại lợi nhuận hơn cho nhà đầu tư hơn là người dân.

Cơ chế hai giá cũng gây những tổn thất lớn không kém với những người sử dụng đất bị thu hồi đất đai cũng như xã hội nói chung. Do việc giao đất các hợp đồng liên doanh, thuế khóa, thuê đất và cấp phép và cấp phép cho nhà đầu tư, xây dựng được tiến hành dựa trên các giá trị đất bị ấn định thấp một cách giả tạo nên nhà nước đang để mất nhiều cơ hội tạo ra các lợi ích xã hội tự một trong những tài sản quý giá nhất của mình.



Theo Đất Việt 
Thực hiện bài: Quy Nhi

2012/04/24

Sự thực bất ngờ: Vì sao người Việt Nam coi thường Trung Quốc


Chúng ta luôn muốn biết xem người Mỹ, người Châu Âu nghĩ gì về mình. Nhưng, xưa nay chưa bao giờ chúng ta suy nghĩ cho nghiêm túc xem trong con mắt người Việt Nam hôm nay, hình ảnh Trung Quốc rốt cuộc là như thế nào? Trong con mắt của không ít người Việt Nam, người Trung Quốc là những kẻ lừa đảo dốt nát, kiêu ngạo, chế tạo ra những sản phẩm rác. Nói thế chắc hẳn rất nhiều người sẽ không dễ chịu, nhưng đó lại là sự thực.


Cách đây không lâu, tờ “Newsweek” của Mỹ có đăng bài “Người Việt Nam coi thường hàng Trung Quốc”, nhiều người đọc xong đã không suy ngẫm cho nghiêm túc xem vì sao đến ngay cả một nước “nhỏ” như Việt Nam mà cũng đánh giá thấp sản phẩm của Trung Quốc, lại còn chửi bới bừa bãi là người Mỹ “phỉ báng” Trung Quốc. Sự thực là, người Việt Nam không chỉ coi thường các sản phẩm của Trung Quốc, mà còn rất không thích cả người Trung Quốc.
Mấy năm gần đây, cùng với sự cạnh tranh trên thị trường quốc tế ngày càng khốc liệt, người Trung Quốc tới khai thác thị trường Việt Nam như ong vỡ tổ, ai cũng muốn đem sản phẩm của mình vào bán cho Việt Nam, hoặc đầu tư lập nhà máy tại Việt Nam. Người Trung Quốc tới như nước triều lên, rồi cuối cùng cũng rút đi như nước triều xuống, số thực sự đứng vững được ở Việt Nam rất ít. Những người thất bại gãy cánh ra về luôn chỉ trích môi trường đầu tư của Việt Nam kém, người Việt Nam không coi trọng nguyên tắc kinh doanh…
Nhưng với cùng một môi trường đầu tư, thế mà người Hàn Quốc, người Đài Loan, người Nhật Bản, thậm chí cả người Âu-Mỹ có sự khác biệt với văn hóa Châu Á rất lớn, hàng năm vẫn vớ bẫm được ở Việt Nam. Người khác thành công được ở Việt Nam là vậy, vì sao người Trung Quốc lại thất bại tập thể tại Việt Nam? Tôi cho là nên để chính người Trung Quốc tự tìm ra nguyên nhân thất bại.

Thiếu hiểu biết và ngộ nhận về Việt Nam


Sự nhận thức về Việt Nam của phần lớn người Trung Quốc vẫn chỉ dừng lại ở hơn 20 năm về trước, trong con mắt những người này, Việt Nam là từ được dùng để nói về sự nghèo khổ, lạc hậu, hỗn loạn. Do thiếu hiểu biết về Việt Nam, nên một số người đã nhẹ dạ tin vào những lời truyền nhau viển vông về Việt Nam trên mạng.
Như có người đã đưa lên mạng bài “Tôi làm giàu ở Việt Nam”, viết cứ như thật: Đến Móng Cái, “tôi” tới quầy thu đổi ngoại tệ, đổi 3000 tệ được hơn 6 triệu đồng tiền Việt Nam, đựng đầy cả một bao gai, rồi vác đống tiền đó tới Hà Nội ăn chơi ở khách sạn mười mấy ngày. Khi về nước, con gái một lãnh đạo công an địa phương cứ một mực đòi lấy “tôi” theo về Trung Quốc. Bài viết này nói lung tung từ đầu chí cuối, đúng là 3000 tệ đổi được hơn 6 triệu đồng tiền Việt Nam thật, nhưng mệnh giá lớn nhất của tiền đồng là 500 nghìn đồng, 6 triệu đồng cũng chỉ có 12 tờ tiền mỏng, ngay cả có đổi thành tiền 10 nghìn đi nữa thì cũng mới chỉ có 600 tờ, đâu phải dùng đến bao gai mà đựng? Nhà trọ gia đình ở Hà Nội giá một đêm khoảng 200 nghìn đồng, 6 triệu chi tiêu dè sẻn thì có thể nán lại Hà Nội được khoảng mươi ngày, còn nếu vung tay thì chắc một đêm không đủ. Ngay như chuyện con gái một lãnh đạo công an đòi lấy anh ta cũng chỉ là lời lẽ dung tục thuần túy. Cả bài viết dớ dẩn, đầy dung tục này thế mà đã có rất nhiều người tin, thế mới biết phần lớn người Trung Quốc thiếu sự hiểu biết về Việt Nam đến thế nào.
Thực ra, Việt Nam đã bắt đầu thực hiện “cải cách kinh tế” từ 21 năm trước, hiện nay đã trở thành một trong những thị trường mới nổi có nhiều kẻ nhòm ngó nhất trên thế giới, tỷ lệ tăng trưởng kinh tế đứng ở vị trí hàng đầu. Các đô thị lớn như Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội…, cả về thu nhập bình quân đầu người lẫn mức sống đều không thua kém gì so với các thành phố lớn của ta, với chỉ số tiêu dùng thậm chí còn vượt cả không ít các thành phố lớn của ta.

Vẻ mặt của người mới phất khiến cho người Việt Nam khó chịu 
 
Phần lớn người Trung Quốc đều lộ vẻ khúm núm trước người Âu-Mỹ, nhưng khi tới Việt Nam lạc hậu hơn Trung Quốc một chút, liền lập tức đổi thành vẻ mặt của người mới phất. Họ phưỡn bụng, nói năng ồn ào, ra dáng giàu có. Năm 2004, một người bạn của tôi tới Việt Nam đầu tư, nói là đầu tư, chứ thực ra cũng chỉ là mở một công ty nhỏ ở Hà Nội với 10 triệu tệ. Anh ta tự cảm thấy mình rất giàu, suốt ngày khoe “ở Trung Quốc đi xe gì xe gì”. Mới đầu người Việt Nam không nói gì, rồi nói nhiều quá họ đâm ra khó chịu.
Về sau, khi được một nhân viên mời về nhà dùng cơm, anh ta không còn dám coi thường người Việt Nam nữa. Bố mẹ nhân viên này làm việc ở Bộ văn hóa Việt Nam, anh trai là phó giám đốc một nhà xuất bản, cả nhà sống trong một ngôi biệt thự 5 tầng, diện tích mỗi tầng hơn 50 m2, dưới nhà để xe có hai chiếc ô tô, một chiếc Mercedes-Benz, một chiếc Ford. Dĩ nhiên, đây là một ví dụ tương đối đặc biệt, nhưng ngay cả những người Việt Nam bình thường cũng không phải là nghèo như chúng ta tưởng tượng. Việt Nam thực hành chính sách người dân làm giàu, phần lớn người Việt Nam đều có nhà riêng, ít nhất cũng có một chiếc xe máy, đồ điện máy gia dụng cũng đầy đủ cả. Những gia đình như vậy tuy chưa thể gọi là giàu, nhưng cũng dứt khoát không thể nói là nghèo.

Hàng Trung Quốc là từ dùng để gọi hàng đểu


Việt Nam là một cường quốc xe máy, một nước hơn 80 triệu dân có tới 17 triệu chiếc xe máy. Doanh nghiệp Trung Quốc vào Việt Nam sớm nhất là Lifan mà đại diện là nhà máy chế tạo xe máy. Năm, sáu năm trước, đường to ngõ nhỏ ở Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh tràn ngập xe máy Trung Quốc, mười mấy nhà máy chế tạo xe máy của Trung Quốc giành giật thị trường tại đây. Những nhà máy này đến rất nhanh, đi lại còn nhanh hơn, đã mấy năm rồi, trên đường phố hiện giờ cơ bản đã không còn nhìn thấy chiếc xe máy mác Trung Quốc nào, ngoại trừ một số mác xe trong nước loại rẻ, 50% người Việt Nam dùng xe máy Honda, Yamaha, Suzuki.
Vì sao xe máy Trung Quốc lại bại trận ở Việt Nam? Các doanh nghiệp xe máy Trung Quốc đi vào thị trường Việt Nam chắc chắn là với động cơ chiến lược chủ yếu vì cho rằng nền kinh tế Việt Nam vừa mới bắt đầu, không đuổi kịp được Trung Quốc, nên đã nghĩ ở một nước có nền kinh tế khá lạc hậu như vậy thì đưa đồ giá thấp vào thị trường là chiến lược tốt nhất. Giá thấp tất nhiên là không thể tạo ra được những sản phẩm chất lượng cao, lại cộng thêm sự cạnh tranh không lành mạnh giữa các doanh nghiệp Trung Quốc, nên đã bắt đầu vấp phải trận Waterloo.
Nhìn lại xe máy Nhật Bản, vào Việt Nam gần như cùng lúc với doanh nghiệp Trung Quốc, nhưng do biết chú trọng đến chất lượng nên tuy giá đắt hơn xe máy Trung Quốc từ mấy đến mười mấy lần, vẫn được người tiêu dùng Việt Nam ưa chuộng. Sản phẩm Trung Quốc bất luận là dáng vẻ bề ngoài hay sự cơ động, chất lượng tổng thể đều lạc hậu hơn nhiều so với xe máy Nhật Bản, vì thế mà rất nhiều cửa hàng được mở để chuyên bán xe Trung Quốc đã bị sập sạch. Đến cả một nước nhỏ như Việt Nam mà cũng mất niềm tin với chất lượng sản phẩm của Trung Quốc, chẳng lẽ điều này không đáng để chúng ta phải suy ngẫm sao?
Nguồn: bbs.city.tianya.cn/BS
Người dịch: Băng Tâm

2012/04/19

Đánh bom liều chết hay câu chuyện của những chiến binh tử vì đạo



Một ngày u ám, một không khí ảm đạm não nề như bất cứ buổi tang lễ nào khác, đó là ngày người Shiite tham gia diễu hành trên khắp các con phố của Dera Ismail Khan để đưa tiễn một giáo sĩ Hồi giáo về nơi yên nghỉ cuối cùng. Thêm một nhà lãnh đạo nữa đã ra đi, thêm một thân thể nữa bị ràng buộc với nấm mồ lạnh lẽo - nhưng đó chưa phải cái kết bi thảm nhất. Một quả bom phát nổ giữa con phố nơi hàng nghìn người đang diễu hành đã làm vị giáo sĩ có thêm 30 bạn đồng hành trên con đường về với Thượng Đế nếu Ngài thực sự tồn tại và dửng dưng trước thảm họa kinh hoàng này.

Cuộc tấn công tháng 2 năm 2009 có thể là một quả bom tấn trên các phương tiện truyền thông vào thời điểm đó, nhưng giờ đây những vụ đánh bom liều chết như thế đã trở nên quá đỗi phổ biến. Những xác chết ngổn ngang trên đường phố, những tiếng gào thét vì đau đớn vang vọng khắp nơi, nét mặt kinh hoàng của những người may mắn sống sót, tiếng còi xe cứu thương inh ỏi...- đó là những gì bạn nhìn sẽ nhìn thấy mỗi ngày nếu như bạn vẫn giữ thói quen xem Thời sự.
Xét từ góc nhìn hoàn toàn mang tính chất chiến lược, đánh bom tự sát là một phương tiện khủng bố vô cùng hợp lý. Chỉ bằng một lượng chất nổ vô cùng thô sơ, một tên khủng bố có thể một mạng đổi lấy hàng trăm, thậm chí hàng nghìn sinh mạng khác. Độ chính xác của nó thậm chí còn vượt trên cả những hệ thống dẫn đường tên lửa tiên tiến nhất, điều này cho phép một tổ chức khủng bố với những phương tiện thô sơ nhất có thể trở thành mối hiểm họa đối với mọi quốc gia.
Một kẻ đánh bom tự sát luôn là viên thuốc khó nuốt trôi đối với bất kỳ nhà cầm quyền nào. Một người đàn ông, một người phụ nữ, hay thậm chí là một đứa trẻ, chấp nhận từ bỏ cuộc sống của mình để đổi lấy sinh mạng của nhiều người khác, chúng ta thường coi họ như những con tốt bị tẩy não, hay những con quái vật cuồng tín. Họ chính là hiện thân của sự đau khổ cùng cực, và cái chết được xem như sự giải thoát.
Nguyện chết vì Đấng Tối Cao
Để hiểu được nguồn gốc của những kẻ liều chết này, bạn cần biết đôi chút về khái niệm Tử vì Đạo (nguyên văn: Martyrdom). Những kẻ tử vì đạo sẽ sẵn sàng hi sinh tính mạng của mình cho một quan điểm, hay một đức tin nào đó. Trong tâm trí họ, đức tin cao hơn mạng sống, và bằng cách hi sinh cho đức tin này, họ đã chứng tỏ được danh dự của mình.
Sự hi sinh của những người tử vì đạo được xem như một sự sỉ nhục ném thẳng vào mặt kẻ thù của họ. Bạn có thể hành hạ, tra tấn, hay sử dụng cái chết như một cách để bắt kẻ thù khuất phục, nhưng làm sao bạn có thể khuất phục nổi những con người coi đau đớn như lạc thú thực sự trước khi rời bỏ cõi đời này? Làm sao bạn khuất phục nổi những kẻ đã dang rộng vòng tay chào đón cái chết? Tệ hại hơn thế, bạn đã thực sự biến họ thành người hùng. Bạn đã mở rộng cửa đưa họ đến với Thiên đường chỉ có trong niềm tin của họ.
Minh chứng sống về những kẻ tử vì đạo tràn ngập khắp các cuốn sách lịch sử. Và khi chính trị dường như là chưa đủ, tôn giáo đã vào cuộc để nâng khái niêm tử vì đạo lên một tầm cao mới.
Câu chuyện dưới đây trong quyển Book of Daniel (Sách Daniel) là một ví dụ để bạn đọc có thể thấy chuyện gì sẽ xảy ra nếu hai khái niệm Tử vì đạo và Chúa gặp nhau. Khi Vua Nebuchadnezzar đưa ra 2 lựa chọn cho 3 chàng thanh niên trẻ Shadrach, Meshach và Abednego, hoặc từ bỏ đức tin của mình, hoặc chấp nhận bị thiêu sống, ba chàng trai này đã không ngần ngại nhảy thẳng vào lò lửa, và điều kỳ diệu đã xảy ra: thân thể họ không hề bị thiêu đốt một chút nào. Một thông điệp đơn giản được rút ra: Chúa sẽ bảo vệ bạn, nếu như bạn tình nguyện chết vì Ngài.
Sự ra đời của những chiến binh Tử vì đạo
Người Do Thái cổ luôn tin rằng tự sát luôn tốt hơn là chết dưới tay kẻ thù. Năm 64 sau Công nguyên, thay vì đầu hàng chính quyền La Mã, một nhóm phiến quân dưới sự lãnh đạo của Eleazar ben Yair đã tự tay kết liễu từng người đồng bào của mình, và không hề có ngoại lệ dành cho phụ nữ hay trẻ em. Mười người được chọn ra để thực hiện nhiệm vụ này, và sau đó một người đàn ông đã ra tay nốt với 9 người còn lại, cuối cùng, tất nhiên anh ta cũng chẳng ngần ngại gì đâm thẳng lưỡi kiếm vào ngực mình. 960 xác chết ngổn ngang khắp các pháo đài Masada – một kết thúc đẫm máu.
Dường như là chưa đủ, Kito giáo đã vào cuộc để tạo nên những câu chuyện lạnh gáy hơn. Huyền thoại về Jesus đã cổ vũ hàng nghìn giáo dân trung thành với niềm tin của họ. Họ nguyện hiến dâng mạng sống và thân xác của mình để tôn vinh đức tin ấy. Họ tin rằng, với sự hi sinh của mình, họ sẽ có được sự bất tử ở thế giới bên kia – và những minh chứng vẫn tồn tại cho đến nay như là những huyền thoại.
Quan điểm của họ là rất rõ ràng: thà tự tay hủy diệt chứ không bao giờ chịu hiến dâng nó cho kẻ thù. Tự tử nổi bật lên như một hành động cần được tôn vinh, nhưng những kẻ lợi dụng tôn giáo cần nhiều hơn thế, họ cần giết chóc nhân danh Ngài.
Khi đạo Hồi xuất hiện vào thế kỷ thứ 7 sau công nguyên, với sự tồn tại của hai tín ngưỡng đang cực kỳ hưng vượng vào thời kỳ đó là Do Thái giáo và Kito giáo, điều gì phải đến cũng sẽ đến: Thánh chiến (nguyên văn: jihad). Trong tiếng Ả Rập, thuật ngữ này mang 2 ý nghĩa: nó vừa là cuộc đấu tranh trong thế giới tâm linh, vừa là cuộc chiến trong thế giới thực.
Những người Hồi giáo tin rằng, Muhammad là nhà tiên tri đầu tiên, và họ đã chiến đấu bảo vệ đức tin này từ những năm 624 sau công nguyên. Cũng trong năm 624, họ đã có được trận đại thắng đầu tiên, khi tiêu diệt toàn bộ đội quân Qurayshi hùng mạnh của Mecca trong trận chiến Badr.
Trong những năm sau đó, những tín đồ của thánh Allah luôn hừng hực trong mình ý chí chiến đấu để báo thù, và hơn thế nữa – để bảo vệ đức tin, cũng như danh dự của vị Thượng Đế trong tim họ. Những gì được viết ra trong kinh Koran có thể giúp bạn phần nào hình dung về điều này, “Hạ sát chúng ngay khi tìm ra chúng, đánh đuổi chúng ra khỏi nơi đã từng là quê hương của chúng ta. Chống cự - hạ sát chúng ngay lập tức”.
“Đó là phần thưởng dành cho những kẻ không có đức tin” – đoạn kinh kết luận.
Và sự ra đời của khái niệm đánh bom liều chết
Đức tin kết hợp với một ý chí mạnh mẽ có thể tạo ra một thứ vũ khí cực kỳ hiệu quả. Với một người đã sẵn sàng cho cái chết, chỉ cần một con dao găm, họ có thể làm nên bất cứ chiến tích nào.
Sự xuất hiện của các Hashisin, ngày nay được biết đến nhiều hơn dưới cái tên Assasins là minh chứng rõ ràng cho tầm ảnh hưởng cực rộng của những kẻ Tử vì Đạo. Công việc của họ, hạ sát các lãnh tụ phe đối lập ngay giữa chỗ đông người – đó thực sự là kiểu nhiệm vụ một đi không trở lại.
Thuốc súng ra đời tiếp tục làm nâng tầm khái niệm tự sát. Người Nhật Bản là người đầu tiên áp dụng chiến thuật này thông qua những chiếc Kamikaze. Họ nguyện hiến dâng cả mạng sống của mình cho Hoàng Đế, họ coi hành động một đổi một như một cách bảo vệ danh dự của mình. Không thể phủ nhận vai trò của những phi công Kamikaze trong cuộc Chiến tranh thế giới thứ 2. Họ thực sự là cơn ác mộng đối với không quân phía Đồng minh.
Vụ đánh bom tự sát đầu tiên được ghi nhận lại xảy ra vào năm 1981 trong một cuộc nội chiến tại Li-băng, giữa những chiến binh Hồi giáo và Ki-tô giáo. Kẻ đánh bom tự sát đã nhằm vào Đại sứ quán Iraq tại Beiru. Ngay sau đó, Mỹ đã tham gia góp vui vào cuộc chiến này, và kéo theo vụ đánh bom liều chết tiếp theo vào năm 1983. Một chiếc xe tải chở đầy chất nổ đã đâm thẳng vào tòa nhà Đại sứ quán Mỹ, làm thiệt mạng hơn 60 người.
 Tử vì đạo thực sự là thảm họa kinh hoàng trải dài suốt chiều dài lịch sử nhân loại. Dấu vết đẫm máu của nó loang rộng khắp các trang sử, trải dài từ Châu Á sang Châu Âu. Nhưng trong thế giới hiện đại, liệu Đức tin của họ có suy chuyển? Súng đạn và thuốc nổ sẽ nâng tầm những cơn ác mộng này lên đến mức nào? Và nhân loại đã đi xa đến đâu để tự bảo vệ mình trước những kẻ đánh bom liều chết? Hãy cùng tìm hiểu câu trả lời ở kỳ tiếp theo.
(Còn tiếp)
Nguồn: Genk.vn

2012/04/11

"Phí" đo lòng yêu nước của ai?

Đề xuất phí giao thông của Bộ trưởng Đinh La Thăng không ngoài thông lệ thế giới, nhưng bị dư luận phản ứng, bởi khác với họ cả về quy trình ban hành văn bản pháp luật, lẫn bản chất vấn đề.


Câu hỏi trên không thể không đặt ra, khi tại buổi họp giao ban báo chí ngày 3.4, Bộ trưởng Đinh La Thăng đánh giá sự ủng hộ của người dân đối với phí giao thông do ông đề xuất "được đa số người có ô tô sẽ ủng hộ... thể hiện lòng yêu nước...".

Sự ủng hộ của người dân- thước đo cho quyết sách

Thực ra, phí giao thông là khoản tiền phải trả để được hưởng dịch vụ giao thông của Nhà nước, thuộc phạm trù kinh tế, pháp lý, tuân theo quy luật trao đổi ngang giá, không liên quan gì tới lòng yêu nước của họ cả.

Ngay cả ở Đức, Toà án Hiến pháp cũng từng ra án quyết, "người dân không có trách nhiệm đóng thuế nhiều cho nhà nước, mà hơn thế, họ có quyền tính toán pháp lý sao cho đóng thuế ít nhất", được nhiều văn phòng tư vấn thuế viết thành khẩu hiệu nơi tiếp khách.

Thuế, phí, thuộc phạm trù vật chất. Yêu nước là thuộc tính tự nhiên trong mỗi con người, do "tạo hoá ban cho họ", nằm trong phạm trù ý thức, tinh thần, được bồi đắp từ thuở ấu thơ "Quê hương là gì hở mẹ / Mà cô giáo dạy phải yêu / Quê hương là gì hở mẹ / Ai đi xa cũng nhớ nhiều" (Đỗ Trung Quân).

Thuế, phí, được tính bằng tiền, có giới hạn, trong khi lòng yêu nước là thiêng liêng, vô giá, thôi thúc họ sẵn sàng hy sinh thân mình, như bao tấm gương "Trừ Văn Thố lấp lỗ châu mai", hay "Bế Văn Đàn lấy thân làm giá súng" (Tố Hữu). Giải thích tại sao, lời hiệu triệu chống Pháp của Chủ tịch Hồ Chí Minh "Thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ" được tầng tầng lớp lớp, triệu người như một hưởng ứng.

Thuộc tính yêu nước, có ở mọi dân tộc, mọi quốc gia trên thế giới, không hề phân biệt đảng phái, chế độ chính trị, tín ngưỡng, thành phần, già trẻ. Yêu nước vì thế không thể mang tính chính trị, thể chế, mà vượt lên trên nó.

Thời kỳ cách mạng dân chủ tư sản Pháp, trước phong trào đông đảo trí thức Nga sang Pháp du học, Nga hoàng lo ngại hỏi quần thần lợi hay hại, liền nhận được câu trả lời: "Nếu bệ hạ cho họ đi, thì sẽ mất vua. Nếu bệ hạ cấm thì sẽ mất nước".





Ở ta chọn thu phí đường, vậy phải lập bao nhiêu trạm thu phí cho toàn bộ đường sá ô tô có thể chạy, trên toàn quốc? Ảnh minh họa




Thế giới hiện đại, Tổ quốc phải đặt trên tất cả. Dấn thân hy sinh vì Tổ quốc là thước đo lòng yêu nước của mỗi công dân. Còn chính sách, liệu có mang lại lợi ích, hạnh phúc, cuộc sống ấm no cho người dân, tức thương dân hay không là thước đo lòng yêu nước của người cầm quyền.

Giải thích tại sao, các quốc gia tiến bộ đều lấy sự ủng hộ hưởng ứng của người dân làm thước đo cho quyết sách của họ.

Vậy ba loại phí giao thông, bảo trì đường bộ, hạn chế phương tiện giao thông cá nhân, hạn chế vào nội đô giờ cao điểm, do Bộ trưởng Đinh La Thăng đề xuất có thoả mãn tiêu chí trên?

Phí hay thuế giao thông không phải phát minh của Việt Nam. Ở Đức, thuế xe được thu lần đầu tiên tại Tiểu bang Hessen năm 1899, gọi là thuế xa xỉ. Hiện nay, chúng được tính theo thể tích xy lanh và mức độ khí thải.

Năm 2011 nước Đức thu được 8,4 tỷ Euro đối với chừng 51,7 triệu xe có động cơ. Cách tính thuế xe trên cũng đúng với phát biểu của Bộ trưởng Đinh La Thăng: "Ai sử dụng nhiều hạ tầng người đó phải nộp tiền nhiều hơn, ô tô phải hơn xe máy...".

Nhưng nước họ không thu phí theo đoạn đường, như ý kiến của Bộ trưởng Đinh La Thăng: "Đường bộ Việt Nam hiện nay khoảng 28.000km mà phí thu bằng trạm thu phí mới được 2.500 km, tức khoảng 0,7%. Các tỉnh lộ, quốc lộ chúng ta mới thu được 5%". Bởi họ đã thu thuế xe, thuế xăng, không được phép thu phí đường, vi phạm nguyên lý cấm đánh thuế song trùng.

Khác về bản chất vấn đề...

Ở ta chọn thu phí đường, vậy phải lập bao nhiêu trạm thu phí cho toàn bộ đường sá ô tô có thể chạy, trên toàn quốc?

Chưa nói, cách thu chi đó gọi là kinh doanh, dù không lấy lãi, liệu có đúng với hạ tầng thuộc chức năng dịch vụ công của Nhà nước? Ở các nước hiện đại, người ta cũng áp dụng thu phí cho một số cung đường, nhưng chỉ đóng vai trò lựa chọn, không bắt buộc, lái xe có thể chọn cung đường khác không phí, bởi họ đã nộp thuế ô tô và nhiên liệu.

Nguồn thu thứ hai dành cho giao thông ở Đức là thuế xăng lên tới 40 tỷ Euro trên tổng thu thuế 555 tỷ Euro. Từ hai nguồn thu trên, riêng chính phủ Liên bang đầu tư cho đường sá lên tới 11 tỷ Euro hàng năm, chiếm 47% tổng ngân sách đầu tư, để có được một mạng lưới giao thông Đức hiện nay với 34.000 km đường sắt, 53.000 km đường quốc lộ, và 7.300 km đường thủy (diện tích Đức tương đương ta). Riêng chỉ để bảo dưỡng hệ thống này đã lên tới 5 tỷ Euro hàng năm.

Khác thuế, phí giao thông các nước đánh trực tiếp vào qúa trình sử dụng. Phí xe vào trung tâm được áp dụng điển hình ở Singapore. Tại Hồng Kông được một thời gian buộc phải bỏ, do dân chúng phản kháng. Tại Na Uy áp dụng năm từ 1985 với giá chừng 3 Euro đươc giải thích để bảo dưỡng đường. Tại nhiều nơi khác được cắt nghĩa bảo vệ môi trường, hạn chế xe cá nhân, tăng sử dụng giao thông công cộng.

Từ tháng 2.2003, phí giao thông được áp dụng ở Luân Đôn mỗi ngày vào nội đô hết chừng 12 Euro (năm 2011). Tại Stockholm, Thụy điển, chính quyền thành phố phải trưng cầu dân ý ngày 24.9.2006, về dự luật thu phí vào trung tâm, với 53,1% phiếu thuận.

Đề xuất phí giao thông của Bộ trưởng Đinh La Thăng không ngoài thông lệ thế giới, nhưng bị dư luận phản ứng, bởi khác với họ cả về quy trình ban hành văn bản pháp luật, lẫn bản chất vấn đề.

Trước hết họ không thu phí với mục đích "gây khó" phương tiện giao thông cá nhân. Bởi đó là quyền cơ bản của công dân, là phương tiện sinh hoạt và mưu sinh của họ. Hiến pháp buộc Nhà nước phải có trách nhiệm bảo đảm; bất cứ luật gì, cơ quan nào của Nhà nước cũng phải tuân thủ.

Để bảo vệ môi trường cả tự nhiên và xã hội khi vào trung tâm, họ hạn chế xe cá nhân, được hiểu theo nghĩa ưu tiên bù giá cho giao thông công cộng để người sử dụng chọn lựa phương tiện này. Chứ không có nghĩa cưỡng bức bằng cách bắt nộp tiền quá giá trị họ sử dụng, kiểu phạt.

Giải thích tại sao, người ta phải xây hệ thống nhà, bãi đỗ xe khắp nơi, khi vào khu vực đi bộ, xây mạng lưới tầu hoả nội đô, cao và ngầm, ô tô buýt, xe điện, bảo đảm nhu cầu giao thông đa dạng của người dân, trước khi áp dụng chính sách thu phí.

Và phí trong trường hợp này được hiểu là chi phí hạ tầng thực tế người sử dụng phải trả, khi không muốn hưởng ưu đãi giao thông công cộng của Nhà nước.

Trong khi đó, tên phí đề xuất của ta đã nói rõ mục đích cuối cùng của nó là... hạn chế; và mang tính cưỡng bức. Bởi trong khi chưa bảo đảm được hệ thống giao thông công cộng thuận lợi thay thế. Cuộc sống đi lại, làm ăn, của người dân, do không còn con đường lựa chọn nào khác, chắc chắn sẽ bị đảo lộn, ảnh hưởng trầm trọng.

Chưa hết, thu phí được Bộ trưởng tuyên bố, chỉ "gắn với một giai đoạn phát triển nhất định, tình hình tốt hơn sẽ bỏ", nghĩa là "phí hạn chế" đóng chức năng... phạt tiền, không phải hạch toán tài chính giữa thu, chi, cho giao thông tính trên một km và đơn vị xe, phải gánh chịu.

Khó tìm được cá nhân...chịu trách nhiệm

Bộ trưởng lý giải đề xuất của mình, bằng viện dẫn Luật Giao thông đường bộ năm 2009, Nghị quyết số 21 UBTVQH, văn bản số 256, ngày 25/11/2011 báo cáo Quốc hội, Nghị quyết của BCH TƯ Đảng kỳ họp 4, cho thấy một vấn đề khác lớn hơn rất nhiều liên quan tới quy trình ban hành văn bản luật của một Nhà nước pháp trị.

Chuyển sang nền kinh tế thị trường, mọi doanh nghiệp, cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội, cá nhân, đều độc lập tự chịu trách nhiệm, theo luật định (ngoại trừ một số trường hợp theo luật định). Đòi hỏi văn bản lập pháp phải có giá trị thực hiện trực tiếp và chế tài mọi cấp thi hành, đúng thời điểm hiệu lực.

Với tư cách người đứng đầu hành pháp của một bộ, Bộ trưởng trình dự luật phải chịu trách nhiệm cá nhân về mặt chính trị dù bao nhiêu cấp thông qua, và với tư cách đứng đầu cơ quan hành chính ngành phải chịu trách nhiệm pháp lý cá nhân, nếu bộ thực thi vi phạm pháp luật.

Luật Giao thông 2009, nếu theo quy trình của họ, phải do Bộ trưởng Giao thông soạn thảo ở mức độ chi tiết, sau khi qua các rào cản Chính phủ, Quốc hội, Chủ tịch nước ký ban hành, các cấp điạ phương ban ngành phải tự động thực hiện được, không cần bất cứ văn bản nào của bộ. Ngoại trừ khi thực hiện có vấn đề buộc phải hướng dẫn, nhưng chỉ đối với vấn đề đó, và không được chệch ra khỏi những chuẩn mực, quy tắc xử sự, quy định sẵn trong luật. Với trách nhiệm đánh đổi cả sinh mạng chính trị lẫn pháp lý như vậy, người đứng đầu phải thận trọng, thăm dò dư luận, tham khảo ý kiến, cho khảo sát thực tế, thẩm định khoa học, trước khi đề xuất.

Mặt khác, nền kinh tế thị trường không bao cấp như trong kinh tế quản lý tập trung, từng cá nhân độc lập với nhà nước, vì vậy bất cứ khoản gì người dân phải đóng hay được trợ cấp, dù đồng lẻ, đều phải được đại diện cho họ là Quốc hội thông qua, không thể phó mặc cho hành pháp tự quyết như thời bao cấp được.

Vấn nạn giao thông ở ta hiện nay không có gì bí ẩn như tin học vi tính, ai ra đường đều thấy cả, không cần bàn cãi. Vấn đề còn lại nằm ở phương án lựa chọn cùng giải pháp tài chính giải quyết. Chính phủ đã có quy hoạch tổng thể phát triển giao thông vận tải đường sắt đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030.

Tổng mức đầu tư cho các dự án đường sắt đô thị ở hai thành phố lớn là Hà Nội và t/p Hồ Chí Minh dự toán 12,7 tỷ USD. Các tuyến đường sắt đô thị Hà Nội được hình thành với ba tuyến chính và hai tuyến nhánh, tổng chiều dài khoảng 128km.

Đường sắt đô thị tại t/p Hồ Chí Minh được qui hoạch thành hai hệ thống, xe điện và xe điện ngầm với sáu tuyến dài 92km, tổng đầu tư đến năm 2020 khoảng 5,5 tỷ USD.

Vậy cần nhanh chóng ưu tiên cân đối tài chính triển khai quy hoạch trên, cùng lúc với đường bộ nội đô, thay vì những giải pháp tình thế buộc dân chúng phải gánh chịu chi phí, hậu hoạ, như vừa đề xuất. Hay quy hoạch tổng thể không khả thi? Hay chưa phải là một văn bản lập pháp, không có hiệu lực? Vậy chờ tới bao giờ?

Trách nhiệm Bộ trưởng không cho phép hành động chậm trễ trước vấn nạn giao thông ở ta hiện nay, nhưng phải bảo đảm được cuộc sống thường nhật của người dân không xấu hơn, cũng như quyền hiến định tự do đi lại của họ, chức năng xây dựng cơ sở hạ tầng của Nhà nước.


TS Nguyễn Sỹ Phương (CHLB Đức)
Nguồn: vietnamnet.vn

2012/03/19

Tiềm lực đầy mâu thuẫn của quân đội Nhật


Cập nhật 19/03/2012 07:00:00 AM (GMT+7)

Trong tuần mà trận động đất và sóng thần tàn phá một phần rộng lớn phía đông bắc nước Nhật, có hơn 100.000 binh lính và phụ nữ đã tham gia vào các nỗ lực cứu hộ trên mặt đất.

Binh sĩ Nhật cõng một phụ nữ sau khi thảm họa sóng thần tràn qua nước Nhật vào tháng Ba năm ngoái

Chính phủ Nhật cho biết họ đã cứu sống 19.286 người. Con số này tương đương với số những người đã thiệt mạng hoặc mất tích do thảm họa kép gây ra.

Trong bản hiến pháp thời hậu chiến tranh thế giới II, Nhật Bản không được phép có các lực lượng quân đội tấn công.

Trong điều số 9 đã tuyên bố rõ: "Người dân Nhật phải vĩnh viễn từ bỏ chiến tranh vì chủ quyền của đất nước và việc đe dọa hoặc sử dụng vũ lực làm các phương tiện để giải quyết các tranh chấp quốc tế"

Do đó, trong bản tuyên bố mục đích thành lập quân đội Nhật – được biết đến với tên gọi Lực lượng Phòng vệ (SDF) – đó là nhằm “bảo vệ hòa bình, độc lập và an ninh của nước Nhật”.

Họ đã gây ấn tượng mạnh mẽ sau khi các thảm họa động đất và sóng thần xảy ra vào tháng Ba năm ngoái.

“Tôi nhìn thấy xe tải của họ ngày hôm qua đã đi lên vùng đông bắc. Tôi muốn hét to rằng: “Chúc may mắn!” – một người dân đã nhắn tin trên mạng Twitter vào ngày 14/3/2011.

“Tôi đã suýt khóc khi nhìn thấy tấm hình của Lực lượng Phòng vệ” – một người khác nói. “Đội quân không tấn công thật tuyệt vời”.

Đó là hình ảnh mà chính quyền Nhật muốn tạo dựng về Lực lượng Phòng vệ - một đội quân thường trực đóng trong nước và không gây ra bất kỳ mối đe dọa nào cho các quốc gia khác.

Nhưng thực tế lại có một mẫu thuẫn. Theo như trong hiến pháp, SDF chỉ được “trang bị ở mức tối thiểu nhất đối với nhu cầu phòng vệ”. Nhưng theo Học viện Quốc tế về Nghiên cứu chiến lược, đây lại là đội quân có được nguồn tài chính đứng thứ 6 trên thế giới.

Mức ngân sách mà Nhật dành cho SPF chỉ là 1% GDP, nhưng với việc Nhật là nền kinh tế đứng thứ ba trên thế giới, thì một phần ngân sách “nhỏ” đó cũng lên tới 55,9 tỉ USD.

Binh sĩ Nhật cũng được huấn luyện ở trình độ rất cao, cùng với vũ khí tinh nhuệ.

Sức mạnh hải quân

“Chất lượng hoạt động của Lực lượng Phòng vệ trong các lĩnh vực như do thám, cứu viện thảm họa, dò phá mìn và tái thiết đều đạt chuẩn thế giới” – Phó giáo sư Ken Jimbo tại Đại học Keio nói.

Theo Giáo sư Christopher Hughes của Đại học Warwick, 2/3 ngân sách nhà nước dành cho các lực lượng trên mặt đất, phần còn lại chia đôi cho lực lượng hải quân và không quân.

‘Kể từ sau khi Chiến tranh Lạnh kết thúc, chính sách an ninh của Nhật đã thay đổi sang hướng tăng cường năng lực bảo vệ đất nước từ bên ngoài lãn thổ và và gửi quân ra các mặt trận bên ngoài” – ông Hughes nói.

“Họ phủ nhận các loại vũ khí uy lực nhất, do đó họ không có tiềm lực tấn công – chẳng hạn như các tên lửa đạn đạo – nhưng hải quân của Nhật lại là một trong những hạm đội đứng đầu thế giới, chỉ sau Mỹ”.

Tuy nhiên, tính chiến đấu của quân đội Nhật lại là một câu hỏi khác. Kể từ sau Thế chiến II, không có binh lính nào của Nhật tham gia vào một trận chiến thực sự.

Phó giáo sư Jimbo nói rằng tính sẵn sàng chiến đấu của Nhật còn phụ thuộc vào quy mô của cuộc tấn công.

“Chẳng hạn, Lực lượng Phòng vệ có thể triển khai các hệ thống tên lửa phòng vệ chống lại các cuộc tấn công (giả định) bằng tên lửa của Triều Tiên hoặc các hoạt động có giới hạn trên mặt đất nhằm vào Nhật”.

“Nhưng nếu tình hình trở nên phức tạp hơn và với cường độ cao hơn thì liên minh Mỹ - Nhật phải can thiệp” – ông Jimbo nói.

Trong khuôn khổ Hiệp ước An ninh và Hợp tác lẫn nhau, Mỹ có trách nhiệm đảm bảo an ninh cho Nhật trong tình huống bị tấn công quân sự.

Đổi lại, Nhật sẽ cho phép quân Mỹ đồn trú – chủ yếu là tại Okinawa, và trả 2,3 tỉ USD cho Mỹ mỗi năm.

Sự thay đổi hoạt động của SDF trong nhiều năm có liên quan chặt chẽ tới chính sách của Mỹ. Chỉ mới 20 năm trước, họ vẫn còn không được phép triển khai quân ở nước ngoài.

Ngày nay, các binh sĩ Nhật có thể đến những nơi như Haiti để giúp người dân địa phương khắc phục sau động đất. Họ cũng đến Somali để bảo vệ tàu thuyền khỏi cướp biển và có thời gian ngắn triển khai quân tới Iraq theo yêu cầu trợ giúp của Mỹ.

Một binh sĩ cứu được một bé sau thảm họa sóng thần

Chính quyền đã thông qua một luật quan trọng cho phép triển khai quân ở nước ngoài trong một giới hạn nhất định – một động thái mà nhiều người cho rằng không hợp hiến.

Cuối cùng, gần 1400 lính thuộc Lực lượng Phòng vệ đã được gửi tới Iraq trong khoảng từ 2003-2009 để tham gia vào các công việc tái thiết.

Tướng Goro Matsumura cho biết: “90% thành viên trong đội của tôi chưa bao giờ triển khai quân ở nước ngoài”

“Trước khi đi, chúng tôi không hề biết chiến trường là như thế nào, do đó nhiều người đã bày tỏ lo ngại, nhưng khi chúng tôi tới đó và được chào đón, chúng tôi cảm thấy nhẹ nhõm hơn”. Với nhiều người, đây là lần đầu tiên họ trải nghiệm cảm giác bị tấn công.

Tướng Matsumura nói rằng ông đã chịu áp lực vô hình để bảo toàn tính mạng của toàn đội.

“Chưa có một binh lính nào của Lực lượng Phòng vệ từng bị thương hoặc thiệt mạng khi làm nhiệm vụ, cho nên tôi cần được chuẩn bị tốt để không có tai nạn nào xảy ra tại Iraq”.

Phó giáo sư Narushige Michishita cho rằng việc gửi quân này là “một cử chỉ mang tính biểu tượng về mặt chính trị tới Mỹ và các quốc gia đồng minh khác hơn là một sự tham gia về mặt quân sự thực sự”.

Ông cũng nói về “quá trình học hỏi quan trọng” cho SDF nhưng nói thêm “vì quyền sử dụng vũ lực bị cấm, do đó tính chất đóng góp của họ cũng bị hạn chế”

Trong lúc lo ngại về việc Trung Quốc chi bạo tay cho quân sự và Mỹ trở lại khu vực, cuộc tranh luật quanh bản hiến pháp của Nhật lại nổ ra.

Một số nhà lập pháp của Nhật nói rằng hiến pháp nên có sự sửa đổi để Nhật tự do hành động hơn trên trường quốc tế.

“Thật ngớ ngẩn làm sao nếu cứ giữ mãi bản hiến pháp đã án ngữ quân đội của chúng ta suốt hơn 65 năm qua” – Thị trưởng Tokyo Shintaro Ishihara nói. “Chúng ta nên thay đổi bản hiến pháp cũ và viết nên hiến pháp mới”.

Tuy nhiên, Phó Giáo sư Jimbo lại nói rằng chỉ nên thay đổi rất ít các điều khoản này.

“Nhật nên giỡ bỏ các quy định như cấm tập trận Lực lượng Phòng vệ tập trung (nhằm bảo vệ các đồng minh khác)” – ông Jimbo nói.

“Chẳng hạn như tại Samawah [Iraq], quân đội Hà Lan, Anh và Úc đã chia sẻ trách nhiệm để trợ giúp cho Lực lượng Phòng vệ trong trường hợp khẩn cấp, nhưng ngược lại thì không được”.

Mặc dù vậy, công chúng hầu như không muốn thay đổi hiện trạng của SDF.

Do đó, những mâu thuẫn vẫn còn nguyên đối với đội quân hiện đại, được đầu tư rất mạnh nhưng lại chỉ được ở trong biên giới của nước mình.
Lê Thu (theo BBC)

2012/03/10

Phép thử dân chủ mang tên Ô Khảm

Nền dân chủ ở Ô Khảm liệu có phải là điều kiện để những phong trào chống tham nhũng và chống trưng thu ruộng đất vô lối ở Trung Quốc hy vọng vào một mặt bằng chính trị ở vị thế cao hơn, ít ra cũng trên phương diện hình thức?

Chuyện chưa từng có tiền lệ
Vào năm 2011, đã có những việc "lần đầu tiên" xảy ra ở Trung Quốc. Ô Khảm là một minh họa sống động như thế. Và năm nay - 2012, cũng hứa hẹn sẽ có thêm những "lần đầu tiên" tiếp theo diễn ra. Ô Khảm đã lại mở màn cho xu thế của những câu chuyện chưa từng có tiền lệ ở đất nước này.

Vào ngày 3/3/2012, một sự kiện lịch sử đã diễn ra tại ngôi làng nhỏ ở Quảng Đông: lần đầu tiên người dân Ô Khảm được chính tay mình và bằng chính tâm hồn mình bầu chọn người đứng đầu của mình. Người đứng đầu đó lại chính là một trong những người đã lãnh đạo thành công cuộc biểu tình chống trưng thu ruộng đất cách đây ba tháng.

Đã không có bất kỳ ứng cử viên nào được chính quyền Quảng Đông giới thiệu "đi cơ sở" ở Ô Khảm, cho dù toàn bộ truyền thống về công tác nhân sự lớn nhỏ từ trước tới nay đều phải bắt nguồn từ quan điểm "lấy quan làm gốc".

Sự việc hy hữu trên khiến người ta cứ ngỡ Ô Khảm là một đảo quốc trong thế giới lý tưởng của Voltaire - nơi mà tính bình quyền chỉ đến với mọi người khi người ta đã không còn chờ đón nó nữa.

Nhưng ở một khía cạnh khác, sự việc cũng trở nên khó xử không kém. Để giải quyết vấn đề tại ngôi làng có số dân chỉ chiếm 1/100.000 dân số Trung Quốc, nghe đâu vụ việc này đã phải đề đạt tới cấp thường vụ Bộ chính trị.

Một phép thử đang diễn ra trong chuyến tàu hoàng hôn. Không có Ô Khảm, chính quyền trung ương ở Bắc Kinh cũng đã đủ "điên đầu" với làn sóng chống trưng thu đất đai nổi lên ở hầu hết 70 thành phố lớn của đại lục. Đó là hậu quả tất yếu từ năm 1990 đến nay, với 43% nông dân bị chính quyền trưng thu đất đai. Cách đây không lâu, một cuộc điều tra tại 17 tỉnh và khu vực do Đại học nhân dân Bắc Kinh tiến hành, được công bố trên báo 21st Century Business Herald, đã phát lộ: 12,7% nông dân bị trưng thu đất mà không được nhận bồi thường, 9,8% nông dân bị chính quyền quỵt tiền đền bù... Tại một số địa phương, đất trưng thu đã được các công ty bất động sản quốc doanh và tư nhân bán lại với giá trung bình cao gấp 40 lần so với giá đền bù.

Nhưng xung đột đất đai chỉ là một trong nhiều "diễn biến hòa bình" mà Bắc Kinh có đầy đủ lý do để quan ngại sâu sắc.


Lần đầu tiên người dân Ô Khảm được chính tay mình và bằng chính tâm hồn mình bầu chọn người đứng đầu của mình. Ảnh: AP 


Dân chủ tượng trưng và con dao hai lưỡi

Trong bối cảnh quá khó xử trên, Ô Khảm lại trở thành... chuyện nhỏ. Trước hết, theo cách so sánh truyền thống của người Trung Quốc, ngôi làng này là quá nhỏ so với tầm vóc của cả một quốc gia vĩ đại và có dân số lớn nhất thế giới. Thứ nữa, nếu có phải "thí điểm" một phép thử về trao quyền dân chủ cho Ô Khảm thì cũng không vì thế mà chính quyền trung ương sẽ đánh mất chính kiến về chính sách tập quyền của mình.

Một lần nữa, cũng như chiến dịch đánh lạc hướng dư luận trong nước ra khu vực biển Đông vào tháng 7/2011, Bắc Kinh thấy cần phải làm một điều gì đó để ít ra cũng làm nguôi ngoai cái đầu nóng của những người nông dân bị đẩy vào tình thế bức bách. Ô Khảm dĩ nhiên là một ví dụ và một cơ hội tuyệt vời, để ít ra dân chúng cũng lần đầu tiên chấm điểm cho chính quyền về một hành động dân chủ mang tính thực chất.

Song trong thực tế, nếu Ô Khảm trở thành một tiêu điểm về thực chất dân chủ và là địa phương đầu tiên có đủ lý do để tiếp nhận một sự nhượng bộ từ chính quyền trung ương, thì kỳ vọng của Bắc Kinh về việc sẽ không xảy ra thêm những Ô Khảm khác lại là điều kiện để những phong trào chống tham nhũng và chống trưng thu ruộng đất vô lối ở Trung Quốc hy vọng vào một mặt bằng chính trị ở vị thế cao hơn, ít ra cũng trên phương diện hình thức.

Mặt khác, không phải bất kỳ ai trong giới lãnh đạo cấp cao Bắc Kinh cũng đều quay lưng với Ô Khảm. Thủ tướng Ôn Gia Bảo là một gương mặt được người dân kỳ vọng ở thái độ dân chủ không phải bằng lối phát ngôn sáo rỗng. Đã không phải một lần, vị thủ tướng này tỏ ra ưu ái đến dân chúng, đến những người bị thu hồi đất và bị mất đất, bắt đầu từ nhận định "sự oán ghét của dân chúng", cho đến gần đây nhất là bênh vực quyền sở hữu đất đai của người dân.

Tiếng nói của Ôn Gia Bảo vì thế đã tỏ ra có đôi chút trọng lượng và phần nào có sức lan tỏa, dù đây lại là vị thủ tướng sắp mãn nhiệm. Nhưng trong cái nhìn cởi mở hơn, dù sao đó cũng là tiếng nói hiếm hoi xuất hiện trong giới quan chức sắp về hưu - một hiện tượng không dễ kiếm tìm trong cơ chế xã hội được coi là khép kín.

Không khí xung đột đất đai ở Trung Quốc cũng vì thế mà có cơ may lắng dịu lại đôi chút, lồng trong bầu không khí chuẩn bị cho đại hội đảng lần thứ 18 của Bộ chính trị.

Có lẽ tất cả sẽ chỉ thay đổi đáng kể vào một thời điểm nào đó, khi Ô Khảm không còn được xem là "lần đầu tiên", mà đã trở thành một tiền lệ cho các tiền lệ khác.

TheoViết Lê Quân
Vietnamnet

2012/02/11

Nguyên Phó Thủ tướng Vũ Khoan lên tiếng về Tiên Lãng


- Vụ việc ở Tiên Lãng tưởng như chỉ mang tính địa phương nhưng lại rất điển hình, phản ánh nhiều điều đang diễn ra trong cả nước. Một phần nào đó nó phản ánh khá rõ nét những điều đã được Hội nghị Trung ương lần thứ Tư khóa XI họp đúng dịp này nêu ra và nó cần được xử lý đúng theo tinh thần Nghị quyết của Hội nghị để củng cố kỷ cương của Đảng và Nhà nước, lấy lại niềm tin của dân. Vụ việc này đồng thời cũng gợi mở nhiều điều trong quá trình sửa đổi Hiến pháp, nhất là xung quanh vấn đề đất đai và hệ thống chính trị.
Nguyên Bí thư Trung ương Đảng, nguyên Phó Thủ tướng Chính phủ Vũ Khoan chia sẻ những tâm tư của ông xung quanh vụ việc xảy ra ở Tiên Lãng, Hải Phòng.
Đã hơn một tháng nay dư luận cả nước xôn xao về vụ cưỡng chế thu hồi đất diễn ra tại xã Vinh Quang, huyện Tiên Lãng (Hải phòng). Xem ra vụ việc tuy chưa đến hồi kết song cũng đã rõ ra nhiều điều. Cuối cùng thì Thành ủy Hải Phòng cũng đã họp báo bẩy tỏ thái độ của mình; Thủ tướng Chính phủ hôm nay họp với các ban ngành hữu quan để xem xét; đã khởi tố vụ án hủy hoại tài sản của ông Đoàn Văn Vươn.


Khu đầm bị cưỡng chế của anh Đoàn Văn Vươn. Ảnh VOV

Vụ việc này phản ánh rất nhiều điều bất ổn khá phổ biến ở nước ta trong lúc này, đòi hỏi phải rút ra những bài học thích đáng để chấn chỉnh, nếu không có thể nẩy sinh những tình huống phức tạp khôn lường. Phải chăng sơ bộ có thể nghĩ về sáu điều sau:

Điều thứ nhất là vụ việc này càng thúc bách (chứ không chỉ nhắc nhở) phải sớm chỉnh sửa Luật đất đai. Có lẽ trong số các đạo luật về kinh tế ở nước ta Luật đất đai có tầm quan trọng hàng đầu vì dù sao nước ta vẫn là nước nông nghiệp, trên 70% dân số sống ở nông thôn; quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đang được đẩy mạnh ảnh hưởng rất nhiều tới đất đai; đây cũng là nơi phát sinh nhiều tệ nạn tiêu cực, tham nhũng nhất vì thực ra tài sản quốc gia của ta chủ yếu cũng nằm ở đất và một số ít khoáng sản; phần lớn các vụ khiếu kiện đông người và gay gắt đều liên quan tới đất đai. Nói một cách khác, phát triển kinh tế, kể cả tiến trình CNH,HĐH, ổn định xã hội, chống tham nhũng về nhiều mặt đều nằm ở đây cả!

Sửa thế nào là chuyện lớn và vô cùng phức tạp; các tầng lớp nhân dân, các chuyên gia, cơ quan xây dựng pháp luật và quản lý cũng như các cơ quan lãnh đạo Đảng và Nhà nước chắc sẽ phải suy nghĩ, luận bàn thấu đáo. Sơ bộ nghĩ, có lẽ ở đây có hai chuyện lớn nhất nổi lên: một là, làm thế nào xử lý thỏa đáng mối quan hệ giữa khái niệm “đất đai là sở hữu toàn dân” (một khái niệm quá rộng và khá trừu tượng) và các quyền của người dân nói chung và người nông dân nói riêng (là những con người cụ thể) và hai là, sự phân cấp thế nào cho các cấp chính quyền địa phương để thực thi quyền của Nhà nước với tư cách là đại diện cho sở hữu toàn dân. Bên cạnh đó có chuyện giải quyết tranh chấp đất đai theo cơ chế nào là thỏa đáng: bằng biện pháp hành chính hay qua tòa án, bằng cưỡng chế theo quyết định hành chính hay thi hành án?

Mọi chuyện rắc rối liên quan đến giao, thu hồi, tranh chấp, bồi thường, giá cả, tiêu cực, tham nhũng… đều liên quan đến các khía cạnh này; không giải quyết chúng một cách thích hợp thì sự bất ổn còn kéo dài.




Nguyên Phó Thủ tướng Vũ Khoan: vụ việc ở Tiên Lãng tưởng như chỉ mang tính địa phương nhưng lại rất điển hình, phản ánh nhiều điều đang diễn ra trong cả nước.

Điều thứ hai là ý thức thượng tôn pháp luật trong một Nhà nước pháp quyền. Những gì lộ diện và được xác nhận cho tới nay cho thấy chính quyền địa phương vi phạm quá nhiều quy định của pháp luật: từ khâu giao đến thu hồi đất, xử lý khiếu nại, cưỡng chế, ứng xử với báo chí, công luận… Đó là chưa kể đằng sau những sự vi phạm ấy có điều gì khuất tất không – một điều cần được sớm làm rõ và xử lý kiên quyết. Nếu bộ máy công quyền hành động như vậy thì làm sao có thể đòi hỏi ở người dân sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật, làm sao củng cố niềm tin của nhân dân đối với chính quyền được?

Còn việc anh em ông Đoàn văn Vươn dùng vũ khí chống lại đội cưỡng chế ( có đúng họ “thi hành công vụ” một cách chính đáng hay không thì còn phải bàn) thì nên để các cơ quan thi hành pháp luật xử lý theo đúng quy định và trình tự của pháp luật; chúng ta chỉ có thể biểu thị tình cảm riêng tư chứ không nên và không thể làm thay họ.

Nhân đây cũng phải thấy trong không ít trường hợp các cơ quan công quyền và các quan chức xử lý công việc trái với cả các quy định của pháp luật; mặt khác ý thức tôn trọng pháp luật của nhiều người dân cũng chưa cao. Nếu không chỉnh sửa cả hai chiều thì làm sao có thể xây dựng được Nhà nước pháp quyền, giữ vững được kỷ cương phép nước?

Điều thứ ba là mối quan hệ giữa chính quyền với người dân. Theo truyền thống văn hóa của dân tộc và theo tinh thần Nhà nước của dân, do dân và vì dân thì trong việc cư xử với người dân các cơ quan công quyền luôn luôn phải vừa có lý, vừa có tình. Cách ứng xử vừa thiếu lý, vừa vô tình của các quan chức huyện Tiên lãng và xã Vinh quang đã đi ngược lại những đạo lý sơ đẳng đó. Tiếc rằng những biểu hiện tương tự không phải là cá biệt mà diễn ra khá phổ biến ở nhiều nơi, nhiều cấp. Nếu vậy thì làm sao củng cố được lòng tin của dân đối với chính quyền, làm sao giữ vững được khối đại đoàn kết toàn dân?

Điều thứ tư là năng lực và phẩm chất của cán bộ. Những gì diễn ra xung quanh vụ việc ở Tiên lãng cho thấy năng lực và phẩm chất, đức và tài của một bộ phận cán bộ quá kém cỏi, rất đáng báo động. Có thể mổ xẻ nhiều khía cạnh; ở đây chỉ xin nhấn mạnh đôi ba điều:

Một là chuyện đào tạo và bố trí cán bộ. Nếu chúng ta muốn xây dựng nhà nước pháp quyền thì người đứng đầu cơ quan hành chính phải được đào tạo bài bản về pháp luật chứ không thể chỉ chính trị chung chung.

Hai là tầm văn hóa của chính khách. Dù sao chăng nữa các cán bộ liên quan tới vụ việc này cũng đã là chính khách nhưng sao họ hành xử, ăn nói thiếu văn hóa đến như vậy? Hành vi và lời ăn tiếng nói của họ chẳng khác nào “văn hóa quán bia”, “văn hóa đường phố”. Tiếc rằng, những biểu hiện như vậy nay không còn hiếm hoi làm hoen ố hình ảnh của nhà nước. Nếu vậy thì làm sao có thể đòi hỏi người dân kính trọng chính quyền và giữ gìn nếp sống văn minh?

Điều thứ năm là vai trò, vị trí và trách nhiệm của các thành tố trong hệ thống chính trị. Diễn biến của vụ việc cho thấy còn khá nhiều chuyện xung quanh thể chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ”, chí ít là ở địa phương. Theo thể chế hiện hành thì những chuyện đại loại thế này chắc phải được bàn bạc và quyết định ở cấp ủy, vậy trách nhiệm của cấp ủy ở đâu? Khi vụ việc vỡ lở vai trò và tiếng nói của cấp ủy sao mờ nhạt vậy? Việc ra quyết định đình chỉ công tác của một số vị lãnh đạo chính quyền về chính thức, công khai nên là của Thường vụ Thành ủy hay Hội đồng nhân dân về hình thức đã bầu ra họ? Một điều lạ là chẳng thấy các cơ quan dân cử như Hội đồng nhân dân, đại biểu hội đồng và cả đại biểu Quốc hội ở đâu. MTTQ, các đoàn thể quần chúng ở địa phương, kể cả Hội nông dân cũng lặng thinh, chỉ có hội ngành nghề vào cuộc. Có nên huy động quân đội tham gia cưỡng chế không cũng là vấn đề cần làm rõ và có quy định chặt chẽ.

Điều thứ sáu là trong thời đại thông tin, mọi hành xử phải rất khác. Vụ việc xẩy ra chỉ ở một địa phương nhưng đã gây ra tiếng vang rất nhanh và rất rộng. Nhân đây ta nhớ tới câu nói của một nhà tương lai học nổi tiếng rằng, trong thời đại ngày nay “hành động ở địa phương những phải tư duy toàn cầu”, tức là bất kỳ hành vi nào đều có sức lan tỏa mạnh mẽ không chỉ trong phạm vi quốc gia mà cả trên toàn cầu. Vụ Tiên Lãng cũng không nằm ngoại lệ. Điều đó nhắc nhở mọi người làm gì cũng cần cân nhắc rất thận trọng, nhiều chiều và phải phản ứng rất nhanh nhậy; nếu không ảnh hưởng sẽ rất lớn.

Tóm lại, vụ việc ở Tiên Lãng tưởng như chỉ mang tính địa phương nhưng lại rất điển hình, phản ánh nhiều điều đang diễn ra trong cả nước. Một phần nào đó nó phản ánh khá rõ nét những điều đã được Hội nghị Trung ương lần thứ Tư khóa XI họp đúng dịp này nêu ra và nó cần được xử lý đúng theo tinh thần Nghị quyết của Hội nghị để củng cố kỷ cương của Đảng và Nhà nước, lấy lại niềm tin của dân. Vụ việc này đồng thời cũng gợi mở nhiều điều trong quá trình sửa đổi Hiến pháp, nhất là xung quanh vấn đề đất đai và hệ thống chính trị.

Vũ Khoan (nguyên Bí thư TƯ Đảng, nguyên Phó Thủ tướng)
Nguồn: Vietnamnet.com